Lịch sử của sự ra đời và phát triển của các tùy chọn nhị phân

Đánh giá của các nhà môi giới tùy chọn nhị phân tốt nhất:
  • Binarium
    Binarium

    Các nhà môi giới tùy chọn nhị phân tốt nhất! Đào tạo miễn phí và tài khoản demo!
    Đăng ký tiền thưởng!

  • Binomo
    Binomo

    Vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng!

Contents

Khái lược sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác — Lênin

Quá trình ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin có thể chia thành hai giai đoạn lớn: Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác, do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện; giai đoạn bảo vệ và phái triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác – Lênin, do V.I.Lênin thực hiện.

Quá trình ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin có thể chia thành hai giai đoạn lớn: Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác, do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện; giai đoạn bảo vệ và phái triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác – Lênin, do V.I.Lênin thực hiện.

a) Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác

– Điều kiện kinh tế – xã hội:

Chủ nghĩa Mác ra đời vào những nãm 40 của thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ trên nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp đưực thực hiện trứơc tiên ở nước Anh vào cuối thế kỷ XVIII. Cuộc cách mạng công nghiệp không những đánh dấu bước chuyển biến từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, mà còn làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản.

Mâu thuẫn sâu sắc giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa với quan hệ sản xuất mang tính tư nhân tư bản chủ nghĩa đã bộc lộ qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1825 và hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại chủ tư bản. tiêu biểu là: cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Lyông (Pháp) năm 1831, 1834; phong trào Hiến chương (Anh) từ năm 1835 đến năm 1848; cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Xilêdi (Đức) năm 1844, V.V.. Đó là những bằng chứng lịch sử thể hiện giai cấp vô sản đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội.

Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản đặt ra yêu cầu khách quan là phải được soi sáng bằng lý luận khoa học. Chủ nghĩa Mác ra đời là sự đáp ứng yêu cầu khách quan đó; đồng thời, chính thực tiễn cách mạng cũng trở thành tiền đề thực tiễn cho sự khái quát và phát triển không ngừng lý luận của chủ nghĩa Mác.

-Tiền đề lý luận:

Chủ nghĩa Mác ra đời không chỉ xuất phát từ nhu cầu khách quan của lịch sử, mà còn là kết quả của sự kế thừa tinh hoa di sản lý luận của nhân loại, trong đó, trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế học chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng ở các nước Pháp và Anh.

Đánh giá của các nhà môi giới tùy chọn nhị phân tốt nhất:
  • Binarium
    Binarium

    Các nhà môi giới tùy chọn nhị phân tốt nhất! Đào tạo miễn phí và tài khoản demo!
    Đăng ký tiền thưởng!

  • Binomo
    Binomo

    Vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng!

Triết học cổ điển Đức, đặc biệt là triết học của G.V.Ph.Hêghen và L.Phoiơbắc đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác.

Công lao lớn của Hêghen là trong khi phê phán phương pháp siêu hình, lần đầu tiên trong lịch sử tư duy của nhân loại, ông đã diễn đạt được nội dung của phép biện chứng dưới dạng lý luận chặt chẽ thông qua một hệ thống các quy luật, phạm trù. Trên cơ sở phê phán tính chất duy tâm thần bí trong triết học Hêghen, C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa “hạt nhân hợp lý” trong phép biện chứng của Hêghen, xây dựng thành công phép biện chứng duy vật.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê phán nhiều hạn chế cả về phương pháp, cả về quan điểm, đặc biệt những quan điểm liên quan đến việc giải quyết các vấn đề xã hội của L.Phoiơbắc, song, hai ông cũng đánh giá cao vai trò tư tưởng của L.Phoiơbắc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, khẳng định giới tự nhiên là tính thứ nhất, tồn tại vĩnh viễn, không phụ thuộc vào ý thức của con người. Chủ nghĩa duy vật, vô thần của L.Phoiơbắc đã tạo tiền đề quan trọng cho bước chuyển biến của C.Mác và Ph.Ăngghen từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật — một tiền đề lý luận của quá trình chuyển từ lập trường chủ nghĩa dân chủ – cách mạng sang lập trường chủ nghĩa cộng sản.

Kinh tế học chính trị cổ điển Anh với những đại biểu lớn của nó là A.Xmít và Đ.Ricácđôđã góp phần tích cực vào quá trình hình thành quan niệm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác.

A.Xmít và Đ.Ricácđô là những người có công lớn trong việc mở đầu xây dựng lý luận về giá trị của lao động trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế học chính trị. Các ông đã đưa ra những kết luận quan trọng về giá trị và nguồn gốc của lợi nhuận, về tính chất quan trọng hàng đầu của quá trình sản xuất vật chất; về những quy luật kinh tế. Song, do những hạn chế về phương pháp nghiên cứu nên các nhà kinh tế học chính trị cổ điển Anh đã không cho thấy được tính lịch sử của giá trị; không thấy được mâu thuẫn của hàng hóa và sản xuất hàng hóa; không thấy được tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa cũng như không phân biệt được sản xuất hàng hóa giản đơn với sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa; chưa phân tích được chính xác những biểu hiện của giá trị trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Kế thừa những yếu tố khoa học trong lý luận về giá trị lao động và những tư tưởng tiến bộ của các nhà kinh tế học chính trị cổ điển Anh, C.Mác đã giải quyết những bế tắc mà bản thân các nhà kinh tế học chính trị cổ điển Anh đã không thể vượt qua được để xây dựng nên lý luận về giá trị thặng dư, luận chứng khoa học về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc kinh tế dẫn đến sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản cũng như sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa xã hội không tưởng đã có một quá trình phát triển lâu dài và đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX với các nhà tư tưởng tiêu biểu là H.Xanh Ximông, S.Phuriêvà R.Ôoen. Chủ nghĩa xã hội không tưởng thể hiện đậm nét tinh thần nhân đạo, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản trên cơ sở vạch trần cảnh khốn cùng cả về vật chất lẫn tinh thần của người lao động trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và đã đưa ra nhiều quan điểm sâu sắc về quá trình phát triển của lịch sử cũng như dự đoán về những đặc trưng cơ bản của xã hội tương lai. Song, chủ nghĩa xã hội không tưởng đã không luận chứng được một cách khoa học về bản chất cùa chủ nghĩa tư bản, không phát hiện được quy luật phát triển cùa chủ nghĩa tư bản và cũng không nhập thức được vai trò, sứ mệnh của giai cấp công nhân với tư cách là lực lượng xã hội có khả năng xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để xây dựng một xã hội bình đẳng, không có bóc lột.

Tinh thần nhân đạo và những quan điểm đúng đắn của các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng về lịch sử, về đặc trưng của xã hội tương lai đã trở thành một trong những tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra đời của lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội trong chủ nghĩa Mác.

– Tiền đề khoa học tự nhiên:

Cùng với những điều kiện kinh tế – xã hội và tiền đề lý luận, những thành tựu khoa học tự nhiên cũng là những tiền đề, luận cứ và những minh chứng khẳng định tính đúng đắn về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác; trong đó, trước hết là quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tiến hóa và thuyết tế bào.

Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng đã chứng minh một cách khoa học về mối quan hệ không tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn của các hình thức vận động của vật chất trong giới tự nhiên. Thuyết tiến hóa đã đem lại cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển đa dạng bởi tính di truyền, biến dị và mối liên hệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên. Thuyết tế bào là một căn cứ khoa học chứng minh sự thống nhất về mặt nguồn gốc, hình thái và cấu tạo vật chất của cơ thể thực vật, động vật và giải thích quá trình phát triển sự sống trong mối liên hệ của chúng.

Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tiến hóa và thuyết tế bào là những thành tựu khoa học bác bỏ tư duy siêu hình và quan điểm thần học về vai trò của “Đấng Sáng Thế”; khẳng định tính đúng đắn của quan điểm duy vật biện chứng về thế giới vật chất là vô cùng, vô tận, tự tồn tại, tự vận động, tự chuyến hóa; khẳng định tính khoa học của quan điểm duy vật biện chứng trong nhận thức và thực tiễn.

Như vậy, sự ra đời của chủ nghĩa Mác là hiện tượng hợp quy luật; nó vừa lả sản phẩm của tình hình kinh tế – xã hội đương thời, của tri thức nhân loại thể hiện trong các lĩnh vực khoa học, vừa là kết quả của năng lực tư duy sáng tạo và tinh thần nhân văn của những người sáng lập ra nó.

b) Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác

Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện, diễn ra từ những năm 1842-1843 đến những năm 1847-1848; sau đó, từ năm 1849 đến năm 1895 là quá trình phát triển sâu sắc hơn, hoàn thiện hơn. Trong giai đoạn này, cùng với các hoạt động thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu tư tưởng của nhân loại trên nhiều lĩnh vực từ thời cổ đại cho đến xã hội đương thời để từng bước củng cố, bổ sung và hoàn thiện quan điểm của mình.

Những tác phẩm như Ban thảo kinh tế-triết học năm 1844 (C.Mác, 1844). Gia đình thần thánh (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1845), Luận cương về Phoiơbắc (C.Mác, 1845), Hệ tư tưởng Đức (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1845-1846),v.v. đã thể hiện rõ nét việc C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa tinh hoa trong quan điểm duy vật và phép biện chứng của các bậc tiền bối để xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật.

Đến tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (C.Mác, 1847) và Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản(C.Mác và Ph.Ăngghen, 1848), chủ nghĩa Mác đã được trình bày như một chnh thể các quan điểm nền tảng với ba bộ phận lý luận cấu thành. Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, C.Mác đã đề xuất những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa xã hội khoa học và bước đầu thể hiện tư tưởng về giá trị thặng dư. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là văn kiện có tính cương lĩnh đầu tiên ca chủ nghĩa Mác. Trong tác phẩm này, cơ sở triết học đã được th hiện sâu sắc trong sự thống nhất hữu cơ với các quan điểm kinh tế và các quan điểm chính trị – xã hội. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản bước đầu đã ch ra những quy luật vận độne cũa lịch sử, thể hiện tư tường cơ bàn về lý luận hình thái kinh tế – xã hội. Theo tư tưởng đó, sản xuất vật chất giữ vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội; phương thức sản xuất vật chất quyết định quá trình sinh hoạt, đời sống chính trị và đời sống tinh thần của xã hội. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cũng cho thấy từ khi có giai cấp thì lịch sử phát triển của xã hội là lịch s đấu tranh giai cấp; trong đấu tranh giai cấp, giai cấp vô sản ch có th tự giải phóng mình nếu đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn th nhân loại. Với những quan điểm cơ bn này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử vào việc nghiên cứu toàn diện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã phát hiện ra rằng: việc tách những người sản xuất nhỏ khỏi tư liệu sản xuất bằng bạo lực là khời điểm sự xác lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Người lao động không còn tư liệu sản xuất để tự mình thực hiện các hoạt động lao động, cho nên, muốn lao động để có thu nhập, người lao động buộc phải bán sức lao động của mình cho nhà tư bản. Sức lao động đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, người bán nó trở thành công nhân làm thuê cho nhà tư bản. Giá trị do lao động của công nhân làm thuê tạo ra lớn hơn giá trị sức lao động của họ, hình thành nên giá trị thặng dư, nhưng nó lại không thuộc về người công nhân mà thuộc về người nắm giữ tư liệu sản xuất – thuộc về nhà tư bản.

Như vậy, bằng việc tìm ra nguồn gốc của việc hình thành giá trị thặng dư, C.Mác đã chỉ ra bản chất của sự bóc lột tư bản chủ nghĩa, cho dù bản chất này đã bị che đậy bởi quan hệ hàng hóa – tiền tệ.

Lý luận về giá trị thặng dư được C.Mác và Ph.Ăngghen nghiên cứu và trình bày một cách toàn diện, sâu sắc trong bộ Tư bản. Tác phẩm này không chỉ mở đường cho sự hình thành hệ thống lý luận kinh tế chính trị mới trên lập trường giai cấp vô sản, mà còn củng cố, phát triển quan điểm duy vật lịch sử một cách vững chắc thông qua lý luận về hình thái kinh tế – xã hội. Lý luận này đã trình bày hệ thống các quy luật vận động và phát triển của xã hội, cho thấy sự vận động và phát triển ấy là một quá trình lịch sử – tự nhiên thông qua sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Lý luận hình thái kinh tế – xã hội đã làm cho quan điểm duy vật về lịch sử không còn là một giả thuyết, mà là một nguyên lý đã được chứng minh một cách khoa học.

Bộ Tư bản của C.Mác cũng là tác phẩm chủ yếu và cơ bản được trình bày đồng nghĩa với khoa học xã hội thông qua việc làm sáng tỏ quy luật hình thành, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản; sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân với tư cách là lực lượng xã hội thực hiện sự thay thế ấy.

Tư tưởng duy vật về lịch sử, về cách mạng vô sản tiếp tục được phát triển trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta của C.Mác (1875). Trong tác phẩm này, những vấn đề về nhà nước chuyên chính vô sản, về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, những giai đoạn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa cộng sản, v.v. đã được đề cập với tư cách là cơ sở khoa học cho lý luận cách mạng của giai cấp vô sản trong các hoạt động hướng đến tương lai.

c) Giai đoạn bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác

-Bối cảnh lịch sử và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác

Những năm cuối thế kỷ XIX — đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển sang một giai đoạn mới là giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Bản chất bóc lột và thống trị của chủ nghĩa tư bản ngày càng bộc lộ rõ nét; mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản ngày càng sâu sắc, điển hình là mâu thuẫn giai cấp giữa vô sản và tư sản. Tại các nước thuộc địa, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc tạo nên sự thống nhất giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản, giữa nhân dân các nước thuộc địa với giai cấp công nhân ở chính quốc.

Trung tâm của các cuộc đấu tranh cách mạng giai đoạn này là nước Nga. Giai cấp vô sản và nhân dân lao động Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích đã trở thành ngọn cờ đầu của cách mạng thế giới.

Trong thời kỳ này, cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên. Một số nhà khoa học tự nhiên, đặc biệt trong lĩnh vực vật lý học, do thiếu sự vững chắc về phương pháp luận triết học duy vật nên đã rơi vào tình trạng khủng hoảng thế giới quan. Sự khủng hoảng này bị các nhà triết học duy tâm lợi dụng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và hành động của các phong trào cách mạng.

Đây cũng là thời kỳ chủ nghĩa Mác được truyền bá rộng rãi vào nước Nga. Để bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp tư sản, những trào lưu tư tưởng như chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, chú nghĩa thực dụng, chủ nghĩa xét lại, v.v. đã mang danh đổi mới chủ nghĩa Mác để xuyên tạc và phủ nhận chủ nghĩa Mác.

Trong bối cảnh như vậy, thực tiễn mới đặt ra nhu cầu phải phân tích, khái quát những thành tựu mới của sự phát triển khoa học tự nhiên nhằm tiếp tục phát triển thế giới quan và phương pháp luận khoa học chủ nghĩa Mác; phải thực hiện cuộc đấu tranh lý luận để chống sự xuyên tạc, tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới.

Hoạt động của V.I.Lênin đã đáp ứng được nhu cầu lịch sử này.

Vai trò của V. I. Lênin đối với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác.

Quá trình V.I.Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác có thể chia thành ba thời kỳ, tương ứng với ba nhu cầu cơ bản khác nhau của thực tiễn, đó là: thời kỳ từ năm 1893 đến năm 1907; thời kỳ từ năm 1907 đến năm 1917;thời kỳ từ sau khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thành công (1917) đến khi V.I.Lênin từ trần (1924).

Những năm 1893 – 1907 là thời kỳ V.I.Lênin tập trung chống phái duy túy. Tác phẩm Những “người bạn dân” là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ – xã hội ra sao? (1894) ca V.I.Lênin vừa phê phán tính chất duy tâm và những sai lầm nghiêm trọng của phái này khi nhận thức những vấn đề về lịch s – xã hội, vừa vạch ra ý đồ của họ khi muốn xuyên tạc chủ nghĩa Mác bng cách xóa nhòa ranh giới gia phép biện chứng duy vật của chú nghĩa Mác với phép biện chứng duy tâm ca Hêghen. Trong tác phẩm này, V.I.Lênin cũng đưa ra nhiều tư ởng về tầm quan trọng của lý luận, của thực tiễn và mối quan hệ giữa lý luận và thực tin.

Với tác phẩm Làm gì? (1902), V.I.Lênin đã phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác về các hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trước khi giành chính quyền. V.I.Lênin đã đề cập nhiều đến đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính tri, đấu tranh tư tưởng; đặc biệt, ông nhấn mạnh đến quá trình hình thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản.

Cuộc cách mạng Nga 1905 – 1907 thất bại. Thực tiễn cuộc cách mạng này được V.I.Lênin tổng kết trong tác phẩm kinh điển mẫu mực Hai sách lược của Đảng dân chủ – xã hội trong cách mạng dân chủ (1905). Ở đây, chủ nghĩa Mác đã được phát triển sâu sắc những vấn để về phương pháp cách mạng, nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, vai trò của quần chúng nhân dân, vai trò của các đảng chính trị, v.v. trong cách mạng tư sản giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.

Những năm 1907 – 1917 là thời kỳ diễn ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan ở nhiều nhà vật lý học. Điều này tác động không nhỏ đến việc xuất hiện những tư tưởng duy tâm theo quan điểm của chủ nghĩa Makhơ và phủ nhận chủ nghĩa Mác.V.I.Lênin đã tổng kết toàn bộ thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỳ XX; tổng kết những sự kiện lịch sử giai đoạn này để viết tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909). Bằng việc đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, những nguyên tắc cơ bản của nhận thức, V.V., V.I.Lênin đã bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới.

Việc bảo vệ và phát triển này còn thể hiện rõ nét tư tưởng của V.I.Lênin về nguồn gốc lịch sử, bản chất và kết cấu của chủ nghĩa Mác trong tác phẩm Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác (1913), về phép biện chứng trong tác phẩm Bút ký triết học (1914 – 1916), về nhà nước chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, vai trò của đảng cộng sản và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng (1917), V.V..

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã mở ra một thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi quốc tế. Sự kiện này làm nảy sinh những nhu cầu mới về lý luận mà thời C.Mác, Ph.Ăngghen chưa được đặt ra. V.I.Lênin tổng kết thực tiễn cách mạng của quần chúng nhân dân, tiếp tục bảo vệ phép biện chứng của chủ nghĩa Mác, đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa chiết trung, thuyết ngụy biện; đồng thời phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác về nhân tố quyết định thắng lợi của một chế độ xã hội, về giai cấp, về hai nhiệm vụ cơ bản của giai cấp vô sản, về chiến lược & sách lược của các đảng vô sản trong điều kiện lịch sử mới, về thời kỳ quá độ, về kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội theo Chính sách kinh tế mới (NEP), v.v, qua một loạt tác phẩm nổi tiếng như: Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920), Lại bàn về công đoàn, về tình hình trước mắt và về những sai lầm của các đồng chí Tơrốtxki và Bukharin (1921), Về chính sách kinh tế mới (1921), Bàn về thuế lương thực (1921), v.v..

Với những cống hiến to lớn ở cả ba bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác, tên tuổi của V.I.Lênin đã cắn liền với chủ nghĩa Mác, đánh dấu bước phát triển toàn diện của chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác – Lênin.

d) Chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới

Chủ nghĩa Mác ra đời đã ảnh hưởng lớn lao đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc cách mạng Tháng Ba năm 1871 ở Pháp có thể coi là sự kiểm nghiệm vĩ đại đổi với tư tưởng của chủ nghĩa Mác. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một nhà nước kiểu mới – nhà nước chuyên chính vô sản (Công xã Pari) được thành lập.

Tháng Tám năm 1903, chính đảng vô sản đầu tiên của giai cấp vô sản được xây dựng theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Đảng Công nhân dân chủ-xã hội (Bônsêvích) Nga. Đó là một đảng mácxít chân chính, lãnh đạo cuộc cách mạng năm 1905 ở nước Nga.

Tháng Mười nãm 1917, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản thắng lợi ở nước Nga, đã mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử nhân loại.

Năm 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập; năm 1922, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết ra đời đánh dấu sự liên minh giai cấp vô sản trong nhiều quốc gia. Với sức mạnh của liên minh, công cuộc chống phátxít trong Chiến tranh thế giới thứ hai không chỉ bảo vệ được thành quả cách mạng của giai cấp vô sản, mà còn đưa chủ nghĩa xã hội phát triển ra ngoài biên giới Liên bang Xôviết (Liên Xô), hình thành nên cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô dẫn đầu, với các thành viên như: Môn Cổ, Ba Lan, Rumani, Hunggari, Việt Nam, Tiệp Khắc, Nam Tư, Anbani, Bungari, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Cộng hòa dân chủ Đức, Trung Quốc, Cuba.

Những sự kiện lịch sử vĩ đại nói trên đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới; thức tỉnh, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa. Vai trò định hướng của chủ nghĩa Mácxit-Lênin đã đem lại những thành quả lớn lao cho sự nghiệp vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Song, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa bị khủng hoảng và rơi vào giai đoạn thoái trào. Nhưng ngay cả khi hệ thống xã hội chủ nghĩa bị khủng hoảng và rơi vào giai đoạn thoái trào thì tư tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trên phạm vi quốc tế; quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội vẫn được khẳng định ở nhiều quốc gia và chiều hướng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa vẫn lan rộng ở các nước khu vực Mỹ latinh.

Đặc điểm thời đại ngày nay là sự biến đổi nhanh chóng và đa dạng các mặt của đời sống xã hội đo cách mạng khoa học và công nghệ đem lại. Thế nhưng, cho dù xã hội biến đổi nhanh chóng, đa dạng đến đâu thì bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn không đổi. Chính vì vậy, để bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội do trí tuệ, mồ hôi, xương máu của nhiều thế hệ mới tạo dựng được, để có những bước phát triển vượt bậc trong sự nghiệp giải phóng con người thì việc bảo vệ, kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và đổi mới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trở thành vấn đề cấp bách trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.

Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: “Hiện tại chủ nghĩa tư bản còn tiêm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: việc khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận. Những thành tựu mà dân tộc Việt Nam đã đạt được trong chiến tranh giữ gìn độc lập, trong hòa bình, xây dựng và trong sự nghiệp đổi mới đều bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, phải “Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng. Thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc sống đặt ra”; “phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

Tiểu luận phương pháp luận “nguyên lý về sự phát triển”

Nguyên lý về sự phát triển là một trong hai nguyên lý quan trọng của phép biện chứng duy vật, là cơ sở khoa học cho sự hình thành quan điểm toàn diện.

Các nội dung liên quan:

Tiểu luận nguyên lý về sự phát triển

Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật phản ánh đặc trưng phổ quát nhất của thế giới, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có sự vận độngphát triển.

Phát triển là những cái mới ra đời thay thế cái cũ, những vẫn trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của cái cũ, cải tạo và phát triển chúng hợp lý để nó trở thành điều kiện, tiền đề vững chắc cho cái mới phát triển nhanh, mạnh, vững hơn. Phát triển là đặc trưng phổ biến, phát triển là một tất yếu khách quan. Hơn nữa mọi nhận thức và thực tiễn trong cuộc sống đều phát triển. Giống như các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử đã có sự phát triển, xuất hiện cái mới phù hợp, hoàn chỉnh hơn. Nhận thấy ý nghĩa quan trọng của nguyên lý về sự phát triển trong chủ nghĩa Mac – Lenin, em đã chọn đề tài: Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của “nguyên lý về sự phát triển” để nhận thức và giải quyết vấn đề: “Sự phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử”.

Chương I. Nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận “nguyên lý về sự phát triển”

1.1. Nội dung phương pháp luận “nguyên lý về sự phát triển”

1.1.1. Khái niệm phát triển

Có nhiều quan điểm khác nhau, đối lập về sự phát triển: quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng. Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới. Những người theo quan điểm siêu hình xem sự phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục, không có bước quanh có, phức tạp.

Đối lập với quan điểm siêu hình, quan niệm biện chứng xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao. Quá trình đó diễn ra dần dần, nhảy vọt đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ, không phải lúc nào sự phát triển cũng diễn ra theo đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có những bước lùi tạm thời. Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kì sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn. Quan điểm biện chứng cũng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật.

Trên cơ sở khái quát sự phát triển của sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định phát triển là một phạm trù triết học dùng đề chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Theo quan điểm này, phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung. Nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động – xu hướng vận động đi lên của sự vật.

1.1.2. Tính chất của phương pháp luận

Các quá trình phát triển đền có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.

Trước hết, tính khách quan của sự phát triển được biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển. Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân của sự vật, hiện tượng là quá trình giải quyết mâu thuẫn của sự vật, hiên tượng đó. Tính chất này là thuộc tính tất yếu không phụ thuộc vào ý thức con người.

Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong một lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật và hiện tượng trong quá trình, mọi giai đoạn của sự vật hiện tượng đó. Trong mỗi quá trình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời phù hợp với quy luật khách quan.

Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng song mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau, tồn tại ở những thời gian, không gian khác nhau, chịu những ảnh hưởng khác nhau và sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng quá trình phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm sự vật, hiện tượng thụt lùi tạm thời…

1.2. Ý nghĩa của phương pháp luận “nguyên lý về sự phát triển”

Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Theo nguyên lý này, trong mọi nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển. Theo V.I.Lenin, “… Logic biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động”’…, trong sự biến đổi của nó”. Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển.

Theo quan điểm phát triển, để nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề gì trong thực tiễn, một mặt cần phải đặt sự vật theo khuynh hướng đi lên của nó vì vậy đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển của nó. Để nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề gì trong thực tiễn, một mặt, cần phải đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên của nó; mặt khác, con đường của sự phát triển lại là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch, đầy mâu thuẫn, vì vậy, đòi hòi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển của nó, tức là cần phải có quan điểm lịch sử – cụ thể trong nhận thức và giải quyết các vấn đề của thực tiễn, phù hợp với tính chất phong phú, đa dạng, phức tạp của nó.

Chương II: Vận dụng nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận của “nguyên lý về sự phát triển” để nhận thức và giải quyết vấn đề: “Sự phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử”

2.1. Các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử

2.1.1. Các kiểu nhà nước trong lịch sử

Lý luận Mac – Lenin về nhà nước và pháp luật đã đưa ra khái niệm kiểu nhà nước trong lịch sử: Kiểu nhà nước là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản, đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Cơ sở để xác định kiểu nhà nước là học thuyết Mac – Lenin về các hình thái kinh tế xã hội. Mỗi kiểu nhà nước phù hợp với một chế độ kinh tế nhất định của một xã hội có giai cấp. Đặc điểm chung của mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ quyết định những dấu hiệu cơ bản, đặc thù của một kiểu nhà nước tương ứng. Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế xã hội: Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Phù hợp với bốn hình thái kinh tế xã hội đó đã có bốn kiểu nhà nước: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

2.1.2. Các hình thức nhà nước trong lịch sử

Hình thức nhà nước là cách tổ chức quyền lực nhà nước và những phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước. Hình thức nhà nước là một khái niệm chung được hình thành từ ba yếu tố cụ thể: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị. Có hai loại hình thức nhà nước đó là hình thức chính thể và hình thức cấu trúc. Trong hình thức chính thể có hình thức chính thể quân chủ và hình thức chính thể cộng hòa. Còn trong hình thức cấu trúc có hình thức nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang.

2.2. Tính khách quan của sự phát triển thể hiện trong sự xuất hiện của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử

Sự xuất hiện các kiểu và hình thức nhà nước là tính tất yếu khách quan. Đây là một biểu hiện quan trọng của quy luật phát triển các hình thái kinh tế xã hội trong thượng tầng chính trị pháp lý. Xét theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lenin trong phép duy vật biện chứng thì một hình thái kinh tế xã hội là 1 sự vật khách quan còn lực lượng sản xuất là mặt nội dung và quan hệ sản xuất là hình thức của hình thái kinh tế xã hội. Quan hệ sản xuất biến đổi chậm hơn, lúc đầu quan hệ sản xuất còn là thích hợp cho lực lượng sản xuất. Nhưng do lực lượng sản xuất biến đổi nhanh hơn nên sẽ đến lúc quan hệ sản xuất lạc hậu hơn so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sẽ trở thành yếu tố kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Để mở dường cho lực lượng sản xuất phát triển, con người phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất. Sự thay đổi của phương thức sản xuất là một điều khách quan bởi bản thân quan hệ sản xuất là một sự vật, mang tính tất yếu là do sự phát triển của lực lượng sản xuất là không ngừng, con người ngày càng phát triển và nhận thức sâu sắc hơn về thế giới khách quan.

Trong suốt quá trình lịch sử thế giới đã có 04 kiểu nhà nước và 02 hình thức nhà nước ra đời, đều do sự ra đời và thay thế các hình thái kinh tế xã hội.

Nhà nước chủ nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử, ra đời trên cơ sở tan rã của chế độ thị tộc, bộ lạc, gắn liền với chế độ tư hữu và phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng. Quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ được xây dựng dựa trên cơ sở chế độ chiếm hữu của chủ nô đối với toàn bộ tư liệu sản xuất và người nô lệ. Sự bóc lột không có giới hạn của chủ nô làm cho mâu thuẫn chủ nô và nô lệ ngày càng gay gắt. Nô lệ không muốn bị bóc lột, họ đứng lên đấu tranh chống lại chủ nô. Mặt khác, giai cấp chủ nô cũng nhận thấy không thể duy trì quan hệ sản xuất cũ. Họ giải phóng nô lệ, giao đất canh tác cho họ và thu thuế trên những vùng đất đó. Chính điều đó đã dẫn đến sự chuyển hoá dần từ phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ sang phương thức sản xuất phong kiến. Nhà nước chiếm hữu nô lệ dần bị diệt vong và thay vào đó là nhà nước phong kiến. Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là quan hệ sản xuất phong kiến đặc trưng bằng chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất và một phần sức lao động của nông dân. Nông dân không có ruộng đất, phải làm thuê cho địa chủ và nộp tô thuế. Trên cơ sở đó, công cuộc tích luỹ tư bản được tiến hành, hình thành hai giai cấp mới tư sản và vô sản. Giai cấp tư sản đang lên, có vị thế kinh tế nhưng lại bị chế độ phong kiến và giáo hội cùng quan hệ sản xuất phong kiến kìm hãm. Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và chế độ phong kiến ngày càng gay gắt, họ đứng lên đấu tranh. Hình thái kinh tế xã hội phong kiến dần bị thay thế bởi hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa và nhà nước tư sản ra đời thay thế nhà nước phong kiến.

Cơ sở kinh tế của nhà nước tư sản là các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, chủ yếu dựa trên chế độ tư hữu về tư kiệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư. Người nông dân, công nhân vẫn tự do tuy nhiên, do không có tư liệu sản xuất, người công nhân phải làm thuê, và kết quả, họ vẫn lệ thuộc vào nhà tư sản. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở thời kì đầu là những quan hệ sản xuất tiến bộ so với quan hệ sản xuất phong kiến, tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển lực lượng sản xuất. Nhưng mâu thuẫn này ngày càng gay gắt, đòi hỏi phải có một cuộc cách mạng để xoá bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đó là kiểu quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất sẽ dẫn đến sự thay thế hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa tư bản sang xã hội chủ nghĩa và sự thay thế kiểu nhà nước tư sản bằng kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Hình thức chính thể quân chủ tồn tại trong ba kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến và tư sản. Trong nhà nước chủ nô tồn tại ở cả hai dạng của chính thể cộng hòa là quý tộc và dân chủ. Tiêu biểu cho chính thể cộng hòa quý tộc là nhà nước La Mã và Spac. Còn chính thể cộng hòa dân chủ là nhà nước Aten. Chính thể này tồn tại ở giai đoạn đầu của nhà nước chủ nô, giai đoạn sau này do cần tập trung vào quyền lực để tạo sự thống nhất trên quy mô lớn, đặc biệt sau khi gây chiến tranh xâm lược và mở rộng lãnh thổ, chính thể cộng hòa dần được thế chỗ bởi chính thể quân chủ. Nhà nước phong kiến chính thể cộng hòa chỉ được thiết lập ở một số thành phố lớn của châu Âu trong thế kỷ XVI. Trong nhà nước tư sản thì chính thể cộng hòa đã được áp dụng phổ biến và trở thành hình thức chính thể cơ bản. Nhưng chỉ còn dạng cộng hòa dân chủ là tồn tại với ba hình thức cơ bản là cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị và cộng hòa cộng hòa hỗn hợp (hay cộng hòa lưỡng tính). Tất cả các nhà nước Xã hội chủ nghĩa đều có chính thể cộng hòa dân chủ được đặc trưng bằng sự tham gia rộng rãi của nhân dân lao động vào việc thành lập các cơ quan đại diện. Về cơ bản đây là hình thức cai trị tiến bộ hơn chế độ quân chủ, nó đã khắc phục được những mặt yếu của chính thể quân chủ. Quyền lực tối cao của nhà nước trong chính thể cộng hòa nằm trong tay của một hoặc một số cơ quan được bầu ra theo nhiệm kì nhất định. Phương thức trao quyền lực được quy định về mặt hình thức pháp lý. Trong các nước cộng hòa quý tộc, quyền đó chỉ quy định đối với tầng lớp quý tộc. Và quyền lực đó chỉ tồn tại trong một nhiệm kì nhất định.

Cả nhà nước chủ nô, phong kiến hầu như đều có cấu trúc đơn nhất, hãn hữu mới gặp cấu trúc liên bang. Khi nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện thì hình thức nhà nước liên bang mới phổ biến.

2.3. Tính phổ biến của sự phát triển thể hiện trong sự ra đời kiểu và hình thức nhà nước mới ưu việt, tốt hơn kiểu nhà nước cũ

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lenin thì sự thay thế các kiểu nhà nước tuân theo nguyên lý của sự phát triển. Nhà nước mới bao giờ cũng đại diện cho phương thức sản xuất mới, dựa trên phương thức sản xuất mới và thúc sự phát triển của phương thức sản xuất mới. Đó là sự hoàn thiện trong quá trình phát triển của các kiểu nhà nước. Nhà nước chiếm nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử, ra đời và phát triển dựa trên quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và hình thái kinh tế xã hội, kiểu nhà nước phong kiến ra đời thay thế nhà nước chủ nô.

Vì là đại diện cho phương thức sản xuất mới nên nhà phong kiến có nhiều điểm tiến bộ hơn nhà nước chủ nô. Sự xuất hiện của nó đánh dấu một bước phát triển mới của xã hội loài người, nó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội mà đặc biệt là xoá bỏ ách nô lệ cho những người lao động, nâng cao năng suất lao động xã hội. Hình thức bóc lột của nhà nước phong kiến tinh vi hơn, đỡ tàn bạo hơn nhà nước chủ nô. Nông dân đã có kinh tế riêng, có một số quyền công dân, có thể lập gia đình riêng. Về chức năng, hình thức, bộ máy nhà nước phong kiến tiến bộ hơn, tổ chức chặt chẽ, hình thức đa dạng hơn.

Nhà nước tư sản là kiểu nhà nước hoàn thiện nhất trong lịch sử các kiểu nhà nước bóc lột. So với quan hệ sản xuất phong kiến, nông dân, công nhân được tự do, về hình thức bình đẳng với chủ như những công dân. Tuy nhiên, do không có tư liệu sản xuất, họ vẫn bị lệ thuộc vào giai cấp tư sản. Hình thức bóc lột của giai cấp tư sản với giai cấp vô sản tinh vi và vô hình hơn. Xét về mặt lịch sử, nhà nước tư sản với những thể chế dân chủ là một tiến bộ lớn so với nhà nước phong kiến, đặc biệt trong thời kì đầu đã xác lập những thể chế dân chủ nghị viện, quyền tự do dân chủ, phổ thông đầu phiếu… Nhưng sau đó, các quyền tự do dân chủ ngày càng bị thu hẹp. Nhà nước tư sản cũng rất đa dạng về hình thức do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế, tương quan lực lượng giữa các giai cấp và mức độ mâu thuẫn giữa chúng.

Tuy là kiểu nhà nước hoàn chỉnh hơn nhưng nhà nước tư sản vẫn có bản chất là nhà nước bóc lột. Và tuân theo quy luật tất yếu của lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời. Đây là kiểu nhà nước ưu việt ,tiến bộ nhất và là kiểu nhà nước cuối cùng. Tính ưu việt tiến bộ nhất của nó được thể hiện trên mọi mặt. Với cơ sở kinh tế là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà đặc trưng là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, lao động là nghĩa vụ của tất cả các thanh viên trong xã hội, thực hiện nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động. Các thành viên trong xã hội hoàn toàn bình đẳng trong sở hữu về tư liệu sản xuất, trong lao động và trong hưởng thụ. Nền tảng xã hội là liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, dân chủ là thuộc tính của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

2.4. Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển trong các kiểu và hình thức nhà nước

Phát triển là khuynh hướng tất yếu của các kiểu nhà nước trong lịch sử. Trong những thời gian, điều kiện khác nhau mà sẽ hình thành nên kiểu nhà nước khác nhau. Bên cạnh đó, sự tác động của nhiều yếu tố, điều kiện lịch sử cũng làm thay đổi chiều hướng phát triển, có khi làm thụt lùi đi. Ví dụ như bệnh bảo thủ trì trệ, bệnh giáo điền cùng với bệnh chủ quan duy ý chí là những căn bệnh chung của các nước Xã hội chủ nghĩa và nó gây ra hậu quả tất yếu là làm cản trở, thậm chí kéo lùi sự phát triển của kinh tế – xã hội, đưa chúng ta đến sai lầm nghiêm trọng. Hay trong kiểu nhà nước tư sản, việc bóc lột nhân công quá mức, thu hẹp quyền dân chủ trong xã hội đã khiến cho xã hội ngày càng nhiều mâu thuẫn, gây nên khủng hoảng về kinh tế, làm giảm tốc độ phát triển, làm cho nhà nước ấy tạm thời thụt lùi đi.

2.5. Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận để giải quyết vấn đề: “Sự phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử”

Vận dụng quan điểm về sự phát triển vào vấn đề “Sự phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử”, giúp chúng ta nhận thức đúng về sự xuất hiện của các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử, thấy được sự phát triển là quá trình khó khăn, phức tạp. Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển. Khi một kiểu và hình thức nhà nước mới xuất hiện, nó sẽ khắc phục được những hạn chế trong kiểu và hình thức nhà nước cũ. Khi kiểu Nhà nước tư sản ra đời, công nhân, nông dân đã có sự bình đẳng với chủ như công dân, đó là điểm mới mà trong nhà nước phong kiến và chủ nô chưa từng xuất hiện. Nó phát triển theo quy luật loại bỏ dần những cái không tốt để xây dựng lên một cái hoàn thiện hơn phù hợp với sự phát triển.

Sự phát triển của kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử là vô cùng phức tạp, quanh co, vì vậy phương pháp luận nguyên lí về sự phát triển giúp ta nhận thức được rằng để hiểu, giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, cần phải đặt hiện tượng ấy dưới nhiều góc độ theo hướng đi lên của nó, trong quá trình ấy bao hàm cả tính thuận nghịch và tính mâu thuẫn. Sự thay thế kiểu và hình thức nhà nước này bằng kiểu nhà nước khác trong lịch sử là một quy luật tất yếu, khách quan của lịch sử. Mặc dù hiện nay, sự thay thế này diễn ra chưa hoàn toàn bởi nhà nước xã hội chủ nghĩa chưa được thiết lập trên toàn thế giới, nhưng trong tương lai, nhà nước tư sản sẽ tiêu vong, nhà nước xã hội chủ nghĩa – kiểu nhà nước tiến bộ nhất và là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử sẽ được xác lập trên toàn thế giới. Và sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ tiêu vong, sau đó sẽ không còn một kiểu nhà nước nào khác nữa.

KẾT LUẬN

Việc tìm hiểu về sự phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước qua nguyên lý về sự phát triển, chúng ta có thể thấy rằng mỗi kiểu nhà nước mang đặc trưng riêng, cái mới sẽ là sự loại bỏ cái xấu trong kiểu nhà nước cũ, bổ sung thêm những cái tốt đẹp để dẫn đến một kiểu nhà nước hoàn thiện nhất công bằng, dân chủ; các hình thức nhà nước thể hiện các kiểu nhà nước. Đó là sự đi lên từ kiểu nhà nước có trình độ kinh tế – xã hội thấp đến kiểu nhà nước có trình độ cao hơn, hoàn thiện hơn; từ hình thức nhà nước này đến hình thức nhà nước khác hoàn thiện hơn, công bằng hơn. Trong quá trình phát triển ấy nó sẽ đấu tranh để loại bỏ những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao những nhân tố tích cực có sẵn trong kiểu nhà nước trước nó. Khi đã có nhận thức đúng đắn về nguyên lý của sự phát triển, con người sẽ cái nhìn thấu đáo hơn về quá trình phát triển của các kiểu và hình thức nhà nước, có thể lí giải được vì sao kiểu nhà nước này bị tiêu vong, kiểu nhà nước mới được hình thành; hình thức nhà nước này phổ biến trong kiểu nhà nước này, không phổ biến trong nhà nước kia. Thông qua đây, em có thêm hiểu biết là phương pháp luận nguyên lý về sự phát triển. Sự hiểu biết của em còn hạn chế, thiếu sót rất mong được thầy cô chỉ bảo để bài làm được hoàn chỉnh.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Giáo trình Những nguyên lý của chủ nghĩa Mac – Lenin, Bộ giáo dục và Đạo tạo, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2020
  2. Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac – Lenin. Phần 1 của tác giả Nguyễn Minh Tuấn
  3. Bộ giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (dành cho sinh viênĐại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mac – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2020
  4. Giáo trình Lí luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Trường đại học Luật Hà Nội, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2020
  5. Lê Văn Lực, Trần văn Phòng (đồng chủ biên), Một số chuyên đề về Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac – Lenin (tập 1), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008.

Các tìm kiếm liên quan đến Phương pháp luận “nguyên lý về sự phát triển”, ví dụ ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về sự phát triển, tiểu luận nguyên lý về sự phát triển, vận dụng nguyên lý về sự phát triển trong cuộc sống, câu hỏi nguyên lý về sự phát triển, nguyên lý về sự phát triển powerpoint, tiểu luận nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật, bài giảng nguyên lý về sự phát triển, ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Đánh giá của các nhà môi giới tùy chọn nhị phân tốt nhất:
  • Binarium
    Binarium

    Các nhà môi giới tùy chọn nhị phân tốt nhất! Đào tạo miễn phí và tài khoản demo!
    Đăng ký tiền thưởng!

  • Binomo
    Binomo

    Vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng!

Làm thế nào để kiếm tiền trực tuyến
Trả lời

;-) :| :x :twisted: :smile: :shock: :sad: :roll: :razz: :oops: :o :mrgreen: :lol: :idea: :grin: :evil: :cry: :cool: :arrow: :???: :?: :!: