Ngôn ngữ mới cho các trang đích và biểu ngữ

Đánh giá của các nhà môi giới tùy chọn nhị phân tốt nhất:
  • Binarium
    Binarium

    Các nhà môi giới tùy chọn nhị phân tốt nhất! Đào tạo miễn phí và tài khoản demo!
    Đăng ký tiền thưởng!

  • Binomo
    Binomo

    Vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng!

Ngôn ngữ mới cho các trang đích và biểu ngữ

trang đích mới trong Afrikaans, Tiếng Hin-ddi, Tamil, tiếng Mã Lai, tiếng Zulu & Việt

Như bạn đã biết, Nam Phi, Ấn Độ, Malaysia và Việt Nam nằm trong danh sách của chúng ta về nước đề nghị làm việc với, và để giúp bạn thu hút thương nhân từ các quốc gia, chúng tôi đã thêm các ngôn ngữ sau để hai trang đích và một biểu ngữ:

Điều này sẽ cải thiện chuyển đổi cho các nước không thuộc quy định trên iqoption.

TRANG CHUYÊN NGÔN NGỮ HỌC

CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

Chuyên mục

Thư viện

Blogroll

Theo dõi

Archive for the ‘Ngữ nghĩa học’ Category

Các cấp độ đối chiếu ngữ nghĩa

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 17, 2020

(lược trích và bổ sung bài: Lê Đình Tư. Những vấn đề ngữ nghĩa học âm vị. Tạp chí khoa học ngoại ngữ 3, 2005)

Như trên đã nói, ngôn ngữ học phân biệt hai bình diện của ngôn ngữ: bình diện biểu hiện và bình diện nôi dung hay bình diện ngữ nghĩa. Nói về bình diện biểu hiện của ngôn ngữ là nói về cấu trúc hình thức của các đơn vị ngôn ngữ, còn nói về bình diện nội dung là nói về ý nghĩa của các đơn vị đó. Với quan niệm đó, người ta cũng đã vạch ra một đường ranh giới cho các lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ: Mô tả mặt biểu hiện của ngôn ngữ, chúng ta đi từ cấp độ âm vị, còn khi mô tả mặt nội dung của nó thì bắt đầu từ cấp độ hình vị. Âm vị được coi là những đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để cấu tạo nên mặt ngữ âm của ngôn ngữ và không có nghĩa, còn hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ. Kết quả là, khi đề cập đến bình diện ngữ nghĩa của ngôn ngữ, cấp độ âm vị thường bị bỏ qua. Nói cách khác, ngữ nghĩa học thường được coi là lĩnh vực ngôn ngữ học nghiên cứu những cấp độ ngôn ngữ lớn hơn âm vị. Trong thực tế, khi đối chiếu những vấn đề ngữ nghĩa giữa các ngôn ngữ, người ta cũng thường tập trung chủ yếu vào cấp độ từ vựng, bởi vì các đơn vị từ vựng như từ, thành ngữ được coi là những đơn vị có nghĩa hoàn chỉnh và có thể xác định được những đơn vị tương đương trong ngôn ngữ khác để đối chiếu.

Tuy nhiên, từ lâu người ta đã để ý đến các hiện tượng tượng thanh hay tượng hình, tức là những trường hợp mà âm thanh của ngôn ngữ có quan hệ khá chặt chẽ với những gì chúng biểu đạt trong thực tế khách quan. Chẳng hạn, H. Schreuder (1970) đã nhận ra rằng, tổ hợp âm ‘ash’ trong tiếng Anh rất hay được dùng để biểu đạt những động tác nhanh hoặc đột ngột, ví dụ: flash (lóe sáng), dash (lao tới, ném mạnh), crash (đâm sầm xuống), hay tổ hợp âm vị /bl/ (cũng trong tiếng Anh) thường xuất hiện trong các từ biểu thị sự khó chịu, ghê tởm hay chán ngấy, ví du: bland smile (nụ cười nhạt nhẽo), blare (làm om sòm), blast (nguyền rủa)… Thậm chí, tác giả còn thấy rằng, trong một số trường hợp, mối quan hệ giữa âm thanh ngôn ngữ (không chỉ là từ tượng thanh) và ý nghĩa chặt chẽ tới mức chúng có thể ảnh hưởng tới việc thay đổi ý nghĩa của từ trong quá khứ, khiến hiện nay một số tổ hợp âm trong tiếng Anh biểu thị những ý nghĩa tiêu cực thay vì ý nghĩa trung hòa như trước đây. Chẳng hạn, âm vị /u/ khi kết hợp với một số âm vị khác (ví dụ như với /l/, /ʃ/ hay /p/) thường biểu đạt những sự vật, sự việc được đánh giá tiêu cực, ví dụ: allure (cám dỗ, quyến rũ), shrew (người dàn bà đanh đá, độc ác), putrid (thối tha, đồi bại). Những hiên tượng tương tự trong tiếng Pháp cũng đã được P. Guiraud (1971) đề cập đến trong tác phẩm “La semantique”. Trên địa bàn tiếng Việt, Nguyễn Hữu Quỳnh (1994) cũng đã nêu nhận xét rằng, một số vần và nguyên âm “có khả năng biểu thị một nét nghĩa nào đó về trạng thái, họat động, tính chất.”. Ví dụ: vần ‘it’ trong tiếng Việt biểu thị một nét nghĩa chung là ‘làm kín, làm chặt thêm’ của các từ ‘bịt’,’khít’,‘thít’…, trong khi vần ‘óp’ mang nét nghĩa ‘giảm thể tích, thu nhỏ khối lượng’ như trong các từ ‘bóp’, hay‘tọp’. Nghiêm túc hơn, các nhà phong cách học cũng đã bàn khá nhiều về giá trị tu từ học của các yếu tố ngữ âm trong các ngôn ngữ. Xa hơn nữa, W. Humboldt cũng đã nhìn nhận ý nghĩa biểu trưng của các đơn vị ngữ âm trong các ngôn ngữ.

Nhìn một cách tổng thể, các nhà ngôn ngữ học này, ở những mức độ và góc độ khác nhau, đều thừa nhận tính có lí do nhất định của âm thanh ngôn ngữ. Họ cho rằng không phải lúc nào mối quan hệ giữa mặt âm và mặt nghĩa trong ngôn ngữ cũng đều mang tính võ đoán, rằng các ngôn ngữ có những lí do và cách thức khác nhau để lựa chọn các phương tiện ngữ âm nhằm biểu đạt những sự vật, hiện tượng, đặc trưng, hay tính chất trong thực tế khách quan. Sự lựa chọn này có liên quan đến bản thân các âm thanh ngôn ngữ và các mối quan hệ đối lập giữa chúng với nhau. Nói cách khác, trong một số trường hợp, người ta thừa nhận có sự hài hòa nhất định giữa mặt âm thanh và mặt nghĩa của các tín hiệu ngôn ngữ.

Như vậy, âm vị có thể được sử dụng theo hai mục đích khác nhau: 1/tạo ra các từ, và 2/ tạo nghĩa mới cho các từ. Trong mục đích thứ nhất, các âm vị tạo ra các từ khác nhau nhờ những thế đối lập về các nét khu biệt của chúng, còn trong mục đích thứ hai, từ được bổ sung một ý nghĩa mới nào đấy nhờ việc khai thác các giá trị ngữ nghĩa mà các âm vị có thể mang lại. Sự tồn tại các giá trị ngữ nghĩa của âm vị khiến cho sự phân biệt hai bình diện của ngôn ngữ, tức bình diện biểu hiện và bình diện ngữ nghĩa theo cách xưa nay, trở nên không rõ ràng hoặc/và không triệt để. Ngữ nghĩa học truyền thống không quan tâm đến hoặc không thừa nhận những giá trị ngữ nghĩa của những đơn vị ngôn ngữ nhỏ hơn hình vị. Đó là cái phần dư ngữ nghĩa trong ngôn ngữ mà ngôn ngữ học chưa có cách giải quyết dứt khoát. Thông thường, khi nhận thấy một hiện tượng ngôn ngữ nào đấy mang giá trị ngữ nghĩa, người ta cứ nghĩ trước hết đến sự hiện diện của hình vị hay từ.

Sự thừa nhận giá trị ngữ nghĩa của các âm vị, hoặc phức thể âm vị, tạo tiền đề cho việc hình thành một bộ môn nghiên cứu mới: Ngữ nghĩa học âm vị (semantyka fonemów lub fonosemantyka), bộ môn nghiên cứu giá trị ngữ nghĩa của cấp độ âm vị.

Đánh giá của các nhà môi giới tùy chọn nhị phân tốt nhất:
  • Binarium
    Binarium

    Các nhà môi giới tùy chọn nhị phân tốt nhất! Đào tạo miễn phí và tài khoản demo!
    Đăng ký tiền thưởng!

  • Binomo
    Binomo

    Vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng!

Ngữ nghĩa học âm vị có vẻ liên quan nhiều hơn đến ngữ dụng học, bởi vì loại ý nghĩa này phụ thuộc nhiều vào các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ cụ thể. Tuy nhiên, ý nghĩa của các âm vị không chỉ liên quan đến sự vận dụng ngôn ngữ mà còn liên quan đến cả lịch sử phát triển của ngôn ngữ, nghĩa là vừa có tính chất đồng đại vừa có tính chất lịch đại. Ngữ nghĩa học âm vị có ý nghĩa thực tiễn to lớn: Nó giúp giải thích nhiều hiện tượng ngữ nghĩa trong các ngôn ngữ, nhờ đó giúp ta hiểu rõ hơn bản chất của những hiện tượng ngôn ngữ như đồng nghĩa, dị nghĩa, các tên riêng, sự hài âm, chơi chữ , hay đặc điểm cấu tạo của các tiếng xã hội trong một cộng đồng ngôn ngữ.

Như vậy, các nghiên cứu ngữ nghĩa học âm vị sẽ bổ sung những thông tin làm cho bức tranh về các bình diện ngữ nghĩa của ngôn ngữ được hoàn chỉnh hơn. Với ngữ nghĩa học âm vị, cấu trúc các bình diện của ngôn ngữ trở nên nhất quán hơn: trên bình diện biểu hiện, chúng ta nghiên cứu toàn bộ mặt cấu tạo hình thức của ngôn ngữ: đi từ âm vị đến văn bản, còn trên bình diện ngữ nghĩa, chúng ta xem xét toàn bộ mặt nội dung của ngôn ngữ, cũng đi từ âm vị đến văn bản. Điều này cũng có nghĩa là ngữ nghĩa học đối chiếu cũng quan tâm đến cả cấp độ âm vị của ngôn ngữ.

Ngữ nghĩa học – khái niệm và phạm vi nghiên cứu (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 10, 2020

2. Ý nghĩa – đối tượng nghiên cứu của ngữ nghĩa học

Như vậy, có thể thấy rằng nghĩa học ngôn ngữ học (từ đây trở đi sẽ được gọi là ngữ nghĩa học) là một ngành khoa học nghiên cứu về ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ. Tuy nhiên, như có thể thấy bên trên, cái được gọi là ‘ý nghĩa’ là một đối tượng không dễ nắm bắt, bởi tính trừu tượng, đa diện và đa cấp của nó. Trong ‘ý nghĩa’, ta cũng có thể nhận thấy sự có mặt của những mối quan hệ phức tạp giữa cái trừu tượng và cái cụ thể, cái xã hội và cái cá nhân, cái phổ niệm và cái dân tộc. Ý nghĩa là sự tổng hòa của nhiều loại quan hệ: quan hệ giữa sự vật/hiện tương và một chuối âm thanh/chữ viết nào đó; quan hệ giữa người nói và người nghe; quan hệ giữa con người và xã hội, quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa…, và cả quan hệ giữa ngôn ngữ với ngôn ngữ (hay quan hệ liên ngôn ngữ). Mạng lưới các quan hệ này làm cho mặt ý nghĩa của ngôn ngữ trở nên rất khó định nghĩa một cách chắc chắn và nhất quán. Ý nghĩa sẽ được định nghĩa (nếu có thể nêu được định nghĩa) theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào góc độ quan sát: là sự vật, nếu được xem xét trong quan hệ giữa từ và sự vật, là khái niệm, nếu được xem xét trong quan hệ với quá trình nhận thức hiện thực, là thái độ/ tình cảm, nếu được xem xét trong quan hệ giữa các vai giao tiếp, v.v. (xem thêm bên dưới). Đây chính là nguyên nhân khiến cho ‘ý nghĩa’, mặc dù đã được các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà triết học, nghiền ngẫm và tìm hiểu từ thời Cổ đại đến nay, vẫn chưa được định nghĩa một cách rõ ràng và trọn vẹn.

Với bản chất phức tạp và đa diện của nó, ‘ý nghĩa’ được quan tâm nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, nhưng nhiều khi rất khó vạch được ranh giới rõ ràng giữa những ‘’ý nghĩa’ được lấy làm đối tượng nghiên cứu ở những lĩnh vực khoa học khác nhau đó.

Như trong triết học chẳng hạn, ý nghĩa ở đây từng được coi là cái tương ứng nằm ngoài ngôn ngữ của một đơn vị ngôn ngữ, hay nói cách khác, ý nghĩa chính là mối quan hệ giữa mặt biểu hiện của ngôn ngữ và hiện tượng bên ngoài nó. Đây được gọi là ‘quan niệm dựa vào vật quy chiếu’ (ví dụ: Arystoteles). Quan niệm coi ý nghĩa là sự vật hoặc các đặc trưng của sự vật chính là quan niệm sơ đẳng nhất về ý nghĩa của từ. Theo quan niệm này thì từ gợi ra sự vật, thay thế cho sự vật. Điều đó có nghĩa là ý nghĩa của từ chính là bản thân sự vật hoặc sự quy chiếu vào sự vật. Quan điểm như vậy cũng được J.S. Mill (1843) nêu ra, khi ông khẳng định rằng đối tượng biểu đạt của các phát ngôn là bản thân hiện thực. Trên cơ sở đó, ông quan tâm nghiên cứu về mối quan hệ giữa các tên gọi của các sự vật và sự biểu đạt các sự vật. Tuy nhiên, ông có phân biệt các kiểu tên gọi xét về cách thức chúng liên hệ với sự vật được gọi tên, mà phải kể trước tiên là kiểu tên gọi không chỉ biểu đạt sự vật mà còn hàm chỉ (connotate) những đặc điểm nhất định của đối tượng được biểu đạt. Ví dụ, những từ như: ‘người’, ‘chó’, ‘bàn’, ‘sông’, v.v. không chỉ biểu đạt các đối tượng được gọi tên ở đây mà còn hàm chỉ cả một số thuộc tính của chúng, tức là những đặc điểm quyết định về bản chất của người, chó hay bàn, sông, v.v. Quan niệm của Mill được các nhà triết học sau này kế tục và phát triển, nhờ đó mà nó giữ một vị trí ổn định trong nghĩa học lô gích và ngữ nghĩa học. Người ta tiếp tục chính xác hóa thêm các khái niệm: ‘sự quy chiếu’ (referencja/odniesienie) được hiểu là những thuộc tính của một tên gọi được sử dụng, còn ‘vật quy chiếu’ (referent) là sự vật/đối tượng mà tên gọi được quy chiếu vào; ‘sự biểu vật’ (denotacja) và ‘cái biểu vật’(denotat) được dùng để chỉ mối quan hệ giữa tên gọi và lớp sự vật hoặc là sự vật đại diện cho lớp sự vật mà tên gọi có thể được quy chiếu vào. Chẳng hạn, từ ‘chó’ có nội dung (ý nghĩa) là tập hợp những nét đặc trưng của các con chó (gọi chung là ‘cẩu tính’), có ‘cái biểu vật’ là toàn bộ lớp sự vật ‘các con chó’ (hoặc một đại diện điển hình của chúng), ví dụ như trong câu: „Chó là con vật trung thành”, và có ‘vật quy chiếu’ là một con chó cụ thể nào đó, ví dụ như trong câu: „Con chó của cậu dễ thương quá!”. (Những thuật ngữ này hiện nay trong tiếng Việt đang được dịch khác nhau).

Cũng có một quan điểm triết học khác, mang tính ngôn ngữ học nhiều hơn, cho rằng ý nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ là mối quan hệ giữa nó với các đơn vị ngôn ngữ khác. Đó là quan điểm đồng nhất ý nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ với cách sử dụng nó. Dòng quan điểm này được gọi là ‘quan niệm không dựa vào vật quy chiếu’ (ví dụ: trường phái triết học phân tích Oxford). Những người theo dòng quan điểm này thường lấy việc miêu tả ý nghĩa của câu, thậm chí toàn bộ lời phát biểu làm cơ sở để từ đó xác định ý nghĩa của các từ như là loại ý nghĩa thứ phát.

Dẫu vậy, xu hướng hiểu ý nghĩa theo góc độ tâm lý học trong triết học vẫn chiếm ưu thế vượt trội, bởi vì ý nghĩa của các tín hiệu ngôn ngữ ở đây thường được hiểu như là những ý niệm nằm trong đầu người nói hay những hình ảnh (tưởng tượng) hoặc những ấn tượng về sự vật được gọi tên. Chẳng hạn, vào thời Trung cổ, ý nghĩa thường được hiểu là ’khái niệm’(và do đó có tên gọi chủ nghĩa khái niệm- konceptualizm), và chính trên cái nền của những cuộc tranh cãi xoay quanh ‘khái niệm’ đã hình thành nên những triết thuyết khác nhau: sớm hơn thì có thuyết duy thực (realizm), thuyết duy danh (nominalizm), còn muộn hơn thì có thuyết liên tưởng (asocjacjonizm). Nhưng, có thể nói, cái dấu ấn tâm lý học đó biểu hiện rõ ràng nhất trong một sơ đồ biểu thị mối quan hệ giữa từ (kí hiệu) và ý nghĩa, thường được gọi là ‘tam giác ngữ nghĩa’, do Ogden và Richards (1923) đưa ra, và được trích dẫn cũng như diễn giải trong nhiều công trình nghiên cứu ngữ nghĩa học. Trong sơ đồ này, ý nghĩa được hiểu là khái niệm và được phân biệt với đối tượng được biểu đạt (tức ‘vật quy chiếu’).

Trong một cách quan niệm hẹp hơn, ý nghĩa của một tín hiệu ngôn ngữ chỉ còn là ‘sự ứng xử của con người’ khi phản ứng trước tín hiệu nghe được đó, bởi vì sự ứng xử của con người được coi là chỉ báo khách quan duy nhất để hiểu các phát ngôn (xem: Bloomfield 1935, Morris 1938 và Osgood 1957). Một ví dụ cổ điển: phát ngôn „Tôi đang đói.” gây ra ở người tiếp nhận (người nghe) phản ứng: ‘mang thức ăn đến’. Đây chính là quan niệm trong hành vi luận (behawioryzm), vốn đã có những ảnh hưởng rộng lớn không chỉ trong nghiên cứu ngữ nghĩa học mà còn cả trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác, mặc dầu bị nhiều ý kiến phê phán.

Những quan niệm triết-tâm lí học về ý nghĩa như nêu trên đã được áp dụng vào ngôn ngữ học nói chung và ngữ nghĩa học nói riêng. Điều đáng nói là lập trường của nhiều nhà ngôn ngữ học trong vấn đề bản chất của ý nghĩa rất gần với quan điểm của thuyết liên tưởng tâm lí học. Chẳng hạn, trong “Giáo trình…” của mình, Saussure đã nêu lên tính chất hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ, trong đó mặt nội dung (tức ý nghĩa) của nó được ông quan niệm là ‘khái niệm’. Cách quan niệm này của Sausure sau này đã trở thành nền tảng lí luận cho những công trình nghiên cứu ngữ nghĩa học theo đường hướng cấu trúc luận. Còn trong những đường hướng nghiên cứu mới hơn, được gọi chung là ngôn ngữ học học tri nhận, quan niệm tâm lí học thậm chí đã trở thành tư tưởng chủ đạo, khi ngôn ngữ được coi là một bộ phận của cơ chế tâm lí con người và tính chất tâm lí của ý nghĩa luôn luôn được nhấn mạnh . Theo cách hiểu của các nhà tri nhận luận (ví dụ: G. Lakoff, Ch. Fillmore, R. Langacker) thì ý nghĩa là „cách thức mọi người hiểu các phát ngôn”. Với cách hiểu như vậy, thật khó có thể nêu lên một định nghĩa mang tính ngôn ngữ học thuần túy về ý nghĩa (xem thêm bên dưới).

Cho nên, có thể xem quan niệm ”ý nghĩa là mối quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ” trong ngôn ngữ học không chỉ đánh dấu một trào lưu nghiên cứu ngữ nghĩa học muốn thoát ra khỏi ảnh hưởng của cách tiếp cận triết-tâm lí học, mà còn biểu hiện một xu hướng muốn từ bỏ ý định tìm hiểu về bản chất của ý nghĩa. Ở đây, ý nghĩa được xác định chỉ nhờ vào việc nghiên cứu hai loại quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ: quan hệ tương đương (hay còn gọi là quan hệ kéo theo) và quan hệ mâu thuẫn, có nghĩa là muốn xác định ý nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ thì cần phải xác định được những đơn vị tương đương và/ hoặc mâu thuẫn với nó. Hai đơn vị ngôn ngữ tương đương về nghĩa với nhau nếu chúng đưa tới những hệ luận (kết luận) giống hệt nhau. Ý nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ chính là cái thuộc tính chung cho tất cả những đơn vị tương đương nghĩa trong một ngôn ngữ. Cách định nghĩa ý nghĩa nhờ vào thuộc tính chung của các đơn vị ngôn ngữ đã được nhiều nhà ngôn ngữ học tiếp nhận (xem chẳng hạn: Jakobson 1959) và rõ ràng đây là quan niệm đặc trưng cho đường hướng nghiên cứu ngữ nghĩa học không quan tâm đến khía cạnh bản thể luận của ‘ý nghĩa’, tức là đến việc xem xét xem bản chất của ‘ý nghĩa’là gì.

Phải đến cuối những năm 80 và trong những năm 90 của thế kỷ XX, vấn đề bản chất của ý nghĩa mới được hâm nóng trở lại nhờ ngôn ngữ học tri nhận. Theo cách hiểu của các nhà tri nhận luận (ví dụ: Lakoff và Langacker), ý nghĩa là „sự hình dung về thế giới” trong óc người nói, tức là tất cả những gì mà người nói liên hệ với các sự vật hay hiện tượng của thế giới khách quan khi sử dụng các từ. Chỉ có điều đó thường không phải là những đặc trưng quan yếu mà là những đặc trưng điển hình, thường xuyên được liên tưởng với sự vật/ hiện tượng. Nói cách khác, trong óc người nói tồn tại một bức tranh lược đồ về sự vật/ hiện tượng: đó là bức tranh ngôn ngữ về thế giới. Bức tranh ngôn ngữ về thế giới là một bức tranh được hình thành trong ý thức của người nói nhờ những kinh nghiệm nhận thức và văn hóa. Bức tranh này được gắn kết trong ý thức của người nói với một biểu thức ngôn ngữ (một chuỗi âm thanh) và đó chính là ý nghĩa của biểu thức ngôn ngữ đó.

Với cách hiểu này, khái niệm ‘ý nghĩa’ được mở rộng thêm rất nhiều và càng trở nên mơ hồ, vì bản thân các khái niệm ‘bức tranh ngôn ngữ’và ‘biểu thức ngôn ngữ’ đều có nội hàm rất rộng và chưa bao giờ được xác định một cách rõ ràng.

Ngữ nghĩa học – khái niệm và phạm vi nghiên cứu

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 13, 2020

1. Ngữ nghĩa học – những cách hiểu khác nhau

Cho đến nay, khái niệm ‘ngữ nghĩa học’ vẫn không được hiểu một cách thống nhất. Thuật ngữ này vốn bắt nguồn từ chữ ‘sēmantiká’ trong tiếng Hy Lạp và được dùng chủ yếu để chỉ lĩnh vực khoa học nghiên cứu về ý nghĩa của các từ, mệnh đề, câu, kí hiệu hoặc các biểu tượng. Trong hệ thống thuật ngữ khoa học quốc tế, ‘ngữ nghĩa học’có những tên gọi khác nhau, ví dụ: trong tiếng Anh: semantics (semantyka), semiology (semiologia), semiotics (semiotyka), semasiology (semazjologia). Xét về nội hàm của thuật ngữ, trong tiếng Việt có thể cần phải phân biệt hai khái niệm: ‘nghĩa học’ và ‘ngữ nghĩa học’.

Có thể nêu một cách khái quát những cách hiểu chủ yếu sau đây về ‘nghĩa học’:

Nghĩa học có thể được hiểu như là một thuật ngữ của lí thuyết chung về tín hiệu (thường được gọi là nghĩa học lô gích – semantyka logiczna lub semiotyka logiczna), tức là đồng nghĩa với ‘tín hiệu học’ (semiologia hoặc semiotyka), một trong ba bộ môn của lô gích học nghiên cứu về các tín hiệu (từ và các thành ngữ), các thuộc tính và chức năng của chúng. Đó là: nghĩa học, dụng học và kết học (semantyka, pragmatyka i syntaktyka) (theo Charles W. Morris). Đây là một lĩnh vực nghiên cứu nằm ở ranh giới của các ngành khoa học: triết học, ngôn ngữ học, lô gích học, lí thuyết thông tin và nhân học.Theo cách hiểu này, nghĩa học nghiên cứu mối quan hệ giữa các tín hiệu và hiện thực mà chúng biểu đạt. Khác với tín hiệu học lô gích, vốn bắt nguồn từ Ch.S. Peirce, L. Wittgenstein và R. Carnap, tín hiệu học không phải là một lĩnh vực khoa học được xác định rõ ràng. Các nghiên cứu tín hiệu học đã được khai triển tương đối muộn và cho đến tận ngày nay phạm vi của chúng vẫn chưa được xác định một cách chính xác.

Thuật ngữ tín hiệu học được sử dụng lần đầu trong tác phẩm ‘Giáo trình ngôn ngữ học đại cương’ của F. De Sausure. Trong tác phẩm này, Sausure đã đề xuất thành lập một ngành khoa học mới là tín hiệu học với đối tượng quan tâm chủ yếu là tín hiệu. Tuy nhiên, ý tưởng của Sausure là trong ngành khoa học này, tín hiệu sẽ được xem xét trước hết ở sự hoạt động xã hội của nó, và ngành khoa học mới này sẽ trở thành cơ sở của ngôn ngữ học theo cách hiểu mới, tức là khoa học nghiên cứu về một loại tín hiệu – tín hiệu ngôn ngữ. Như vậy, ngôn ngữ học sẽ trở thành một bộ phận của tín hiệu học – khoa học chung về tất cả các tín hiệu. Một số nhà tín hiệu học, như Pierre Guiraud chẳng hạn, thì định nghĩa tín hiệu học hẹp hơn, coi đây là ngành khoa học nghiên cứu về tất cả những hệ thống tín hiệu nào không phải là tín hiệu ngôn ngữ.

Nghĩa học theo cách hiểu của triết học ngôn ngữ (gọi là nghĩa học tổng quát – semantyka ogólna) – một quan niệm xã hội học-triết học về ngôn ngữ, phát triển ở Mỹ từ những năm hai mươi của thế kỷ XX. Thực ra, thuật ngữ này không có mấy điểm chung với nghĩa học lô gíchnghĩa học ngôn ngữ học, vì nó chủ yếu nghiên cứu việc cải thiện các quan hệ giữa con người với con người thông qua việc cải thiện ngôn ngữ, còn những vấn đề quan tâm khác của nó lại liên quan chủ yếu đến lĩnh vực xã hội học, tâm lí học và tâm lí trị liệu (psychoterapia). Người khởi xướng cho nghĩa học tổng quát là Alfred Korzybski, một triết gia và nhà lô gích học người Mỹ gốc Ba Lan. Chính Koszybski vẫn thường nhấn mạnh rằng không nên lẫn lộn nghĩa học tổng quát của ông với nghĩa học ngôn ngữ học. Trong hai tác phẩm của mình (‘Manhood of Humanity’ – Sự trưởng thành của nhân tính, và ‘Science and Sanity’ – Khoa học và sự tỉnh táo), ông đã nêu ra và giải thích những vấn đề chủ yếu của nghĩa học tổng quát, trong đó quan trọng nhất là quan điểm của ông về kiến thức và sự truyền đạt kiến thức. Theo ông, kiến thức của con người cũng như việc chuyển giao kiến thức đó bị giới hạn bởi cấu trúc của hệ thần kinh con người và cấu trúc của ngôn ngữ. Con người không thể tiếp thu thế giới khách quan một cách trực tiếp mà chỉ có thể tiếp nhận nó thông qua những mối liên tưởng trừu tượng, những hình ảnh tiếp nhận được thông qua hệ thần kinh và được truyền tải nhờ ngôn ngữ. Quá trình này bị tác động bởi những cảm nhận phức tạp của con người và sự thiếu chính xác của ngôn ngữ khiến bức tranh của hiện thực bị biến dạng.

Quan điểm của Koszybski sau đó tiếp tục được các học trò của ông tiếp thu và phát triển.

Nghĩa học được hiểu là một bộ môn của ngôn ngữ học (gọi là ‘nghĩa học ngôn ngữ học‘ hoặc ngắn gọn hơn: ‘ngữ nghĩa học‘– semantyka językoznawcza) nghiên cứu về ý nghĩa của các từ nói riêng và các đơn vị ngôn ngữ nói chung (thành ngữ, câu, văn bản). Thuật ngữ ‘ngữ nghĩa học’ theo cách hiểu này đã được nhà ngôn ngữ học Pháp Michel J. A.Bréal đưa ra lần đầu trong tác phẩm Essai de sémantique xuất bản năm 1897. Ngữ nghĩa học nghiên cứu trước hết ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, nhưng cũng nghiên cứu cả mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của tín hiệu ngôn ngữ theo nghĩa đồng đại và lịch đại. Ngoài ra, ngữ nghĩa học còn nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nghĩa của từ, tức là giữa nghĩa cơ bản (hoặc nghĩa gốc) của nó với các nghĩa phái sinh hoặc nghĩa cụ thể được sử dụng trong phát ngôn. (Sẽ nói rõ thêm ở phần sau).

Sự biến đổi ý nghĩa của từ (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Bảy 12, 2020

LÊ Đình Tư
(Trích từ: Lê Đình Tư & Vũ Ngọc Cân. Nhập môn ngôn ngữ học. Hà Nội, 2009)

3. Các phương thức biến đổi ý nghĩa của từ

Phương thức biến đổi ý nghĩa của từ là cách thức bổ sung nghĩa mới cho từ không kèm theo sự biến đổi về từ ngữ âm, làm cho từ trở thành từ nhiều nghĩa.

Trong ngôn ngữ học, người ta đã tổng kết được ba phương thức chủ yếu mà các ngôn ngữ thường dùng để biến đổi ý nghĩa của từ. Đó là:

3.1. Giữ tên gọi cũ để chỉ những sự vật, hiện tượng hay khái niệm mới hoặc đã thay đổi

Về nguyên tắc, khi xuất hiện một sự vật, hiện tượng hay khái niệm mới, hoặc khi sự vật, hiện tượng trước đây đã thay đổi thì xã hội phải tạo ra một vỏ âm thanh mới để biểu thị nó. Song không phải bao giờ người ta cũng làm như vậy. Trong nhiều trường hợp, các ngôn ngữ vẫn lấy tên gọi cũ để biểu thị sự vật hay hiện tượng mới nhờ vào những nét tương đồng giữa cá sự vật. Chỉ khi nào cần thiết, người ta mới bổ sung thêm một yếu tố khu biệt nào đó, ví dụ như yếu tố mô tả một đặc trưng hay chức năng nào đó của sự vật. Điều đó dẫn tới kết quả là một tên gọi được dùng chung cho nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau, khiến cho việc xác định ý nghĩa thực của từ nhiều khi không thể thực hiện được, nếu không có ngữ cảnh của từ. Ví dụ: Nếu không theo dõi từ đầu quá trình giao tiếp, người nghe có thể không hiểu được ý nghĩa thực của từ ‘xe’ trong câu “Chị đã mua xe chưa?”, vì rằng trong trường hợp này, ‘xe’ có thể là ‘xe máy’, ‘xe đạp’ hoặc ‘xe hơi’… Một loạt các từ như ‘bút’, ‘đàn’, ‘bánh”,… trong tiếng Việt đều nằm trong số những từ được biến đổi nghĩa theo phương thức này và nhờ đó chúng trở thành những hình vị cấu tạo từ mới theo phương thức ghép chính phụ.

Đây là phương thức phát triển ý nghĩa của từ rất phổ biến trong các ngôn ngữ. Có thể nêu một vài ví dụ: Trong tiếng Anh, từ ‘boat’ vừa có nghĩa là “thuyền” vừa có nghĩa là “tàu thuỷ” (loại nhỏ); trong tiếng Ba Lan, từ ‘pióro’ vừa có nghĩa là “cái lông” (ví dụ: ‘lông ngỗng’) vừa có nghĩa là “cái bút”; trong tiếng Pháp, từ ‘bureau’ vừa có nghĩa là “cái bàn làm việc” vừa có nghĩa là “phòng làm việc” hay “cơ quan”…

Điều đáng chú ý là trong phương thức này, thường chỉ có ý nghĩa biểu vật là thay đổi cơ bản, còn ý nghĩa biểu niệm chỉ thay đổi phần nào, trong đó nét nghĩa chính thường được bảo tồn. Thực vậy, trong từ ‘xe’ của tiếng Việt chẳng hạn, ý nghĩa biểu vật đã thay đổi rất nhiều: nó biểu thị không phải một mà nhiều loại xe khác nhau. Trong khi đó, nét nghĩa chính trong ý nghĩa biểu niệm của từ này là ‘phương tiện chuyên chở đường bộ, thường có bánh’ vẫn không thay đổi. Do đó, có thể nói rằng đây là những từ nhiều nghĩa biểu vật.

3.2. Hoán dụ

Hoán dụ là phương thức làm biến đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để chỉ một sự vật, hiện tượng khác trên cơ sở mối quan hệ tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng ấy.
Chúng ta hiểu quan hệ tất yếu là mối quan hệ hiển nhiên, có thể thấy được một cách trực tiếp và ai cũng thấy như nhau mà không cần phải có những thao tác tìm hiểu đặc biệt như đối chiếu hay so sánh chẳng hạn.

Thường thì các ngôn ngữ dựa vào một số loại quan hệ tất yếu để tạo ra hoán dụ. Số lượng những mối quan hệ đó có thể không giống nhau trong các ngôn ngữ. Tuy nhiên, xét trên góc độ phổ niệm, có thể nêu lên ba loại quan hệ chủ yếu sau đây:

– Quan hệ bộ phận và toàn thể, nghĩa là lấy tên gọi của bộ phận để chỉ toàn thể hoặc ngược lại. Tuy nhiên, nói chung, người ta thường lấy tên gọi của bộ phận để chỉ toàn thể mà ít khi lấy toàn thể để chỉ bộ phận. Chẳng hạn, trong tiếng Việt, ‘má hồng’ thường được dùng để chỉ ‘cô gái’, hay ‘mày râu’ chỉ ‘đàn ông’, hoặc ‘tay chơi’ dùng để chỉ ‘người ăn chơi’; ‘miệng ăn’ chỉ ‘người ăn’, song ‘con ngươi’ (con người) được dùng để chỉ ‘đồng tử’; ‘nhà’ dùng để chỉ ‘chồng’ hoặc ‘vợ’; ‘mùi’ dùng để chỉ ‘mùi hôi’…

– Quan hệ giữa nguyên liệu và thành phẩm, nghĩa là lấy tên gọi của nguyên liệu để chỉ sản phẩm hay thành phẩm làm từ nguyên liệu đó. Ví dụ: ‘glass’ trong tiếng Anh có thể là “thuỷ tinh” (nguyên liệu), song cũng có thể là “cái cốc”, “cái kính”, “ống nhòm” (thành phẩm); ‘thau’ trong tiếng Việt vừa là tên gọi nguyên liệu (đồng thau) vừa là tên gọi của thành phẩm: cái chậu làm bằng đồng thau (ví dụ: ‘thau rửa mặt’).

– Quan hệ giữa vật chứa và vật được chứa, tức là lấy vật chứa để chỉ vật được chứa trong đó. Ví dụ: trong câu “Cả nhà đi nghỉ mát.” thì ‘nhà’ có nghĩa là ‘những người sống trong nhà’ đó; trong “Cả làng vào hội.” thì ‘làng’ là vật chứa tất cả những người đang sống trong đó.

Ngoài ba loại quan hệ chủ yếu trên đây, người ta còn nói tới một số quan hệ khác nữa. Song nói chung, đó chỉ là những sự cụ thể hóa các loại quan hệ đã nêu ở trên, và trong các ngôn ngữ có thể có sự khác biệt về những biểu hiện cụ thể đó. Chẳng hạn, trong tiếng Việt có cách nói lấy tên gọi của tính chất sự vật để chỉ bản thân sự vật (ví dụ: ‘chất xám’ được dùng để chỉ ‘trí thức’) mà đó chính là loại hoán dụ dựa trên quan hệ bộ phận/ toàn thể nhưng chỉ đặc trưng cho một hay một số ngôn ngữ nào đó mà thôi.

Qua các ví dụ nêu trên, ta cũng có thể nhận thấy rằng, trong trường hợp hoán dụ, cả ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của từ đều bị biến đổi.

3.3. Ẩn dụ

Ẩn dụ cũng là phương thức biến đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để chỉ sự vật, hiện tượng khác trên cơ sở của sự giống nhau về một khía cạnh nào đấy giữa hai sự vật hay hiện tượng ấy.

Tuy nhiên, khác với trường hợp hoán dụ, quan hệ giữa hai sự vật hay hiện tượng trong ẩn dụ không phải là mối quan hệ hiển nhiên và có thể thấy một cách trực tiếp, do đó để nhận ra mối quan hệ này, ta phải thực hiện thao tác đối chiếu, so sánh ngầm các sự vật/ hiện tượng với nhau. Chính vì đây không phải là mối quan hệ có thể thấy được một cách trực tiếp, nên nhiều khi, sự liên tưởng ở mọi người không giống nhau, dẫn đến việc tiếp thu ý nghĩa của cùng một đơn vị ngôn ngữ theo những cách khác nhau. Đây chính là lí do vì sao ẩn dụ rất được ưa dùng để tạo ra những hiệu quả giao tiếp đặc biệt trong ngôn ngữ văn học.

Khi nói đến ẩn dụ với tư cách là phương thức biến đổi ý nghĩa của từ, người ta thường nghĩ đến những loại ẩn dụ nào có tính bền vững tương đối, nghĩa là đã được xã hội chấp nhận và sử dụng rộng rãi. Đó là những ẩn dụ trong giao tiếp thông thường, chứ không phải là ẩn dụ trong giao tiếp nghệ thuật.

Để tạo ra ẩn dụ, người ta cũng thường dựa trên một số mối quan hệ giữa các sự vật hay hiện tượng. Thường thì người ta tạo ra ẩn dụ trên cơ sở của ba loại quan hệ chủ yếu sau đây:

– Quan hệ giữa nghĩa cụ thể và nghĩa trừu tượng, nghĩa là lấy từ vốn trước đây chỉ dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động hay đặc trưng, tính chất cụ thể để chỉ một khái niệm trừu tượng. Ví dụ: Các từ ‘chín’ trong “chuối chín” và “nghĩ chín” của tiếng Việt, ‘vưxoki’ (cao) trong ‘‘vưxoki gost’’ (‘khách quý’) của tiếng Nga, hay ‘soft’ (‘nhẹ, dẻo, mềm’) trong ‘‘soft winter’’ (‘mùa đông ôn hoà, dễ chịu’) của tiếng Anh, là những ẩn dụ loại này.

– Quan hệ giữa người và vật: lấy tên gọi của bộ phận cơ thể, hành vi, tính chất hay đồ dùng của người để biểu thị các bộ phận, tính chất hay hành động của vật. Ví dụ: ‘mũi’ trong “mũi dao”, “mũi thuyền”; ‘quất’ trong “mưa quất”, ‘mũ’ trong “mũ đinh” của tiếng Việt.

– Quan hệ giữa vật và người, tức là lấy tên gọi của vật, hoặc bộ phận, hành vi, tính chất của vật để chỉ người hay bộ phận, hành vi, tính chất của người. Ví dụ: Trong tiếng Việt, ‘cò mồi’ được dùng để chỉ ‘người làm trung gian để kiếm lời’, ‘cò hương’ được dùng để chỉ ‘người cao hay gầy’, ‘lá’ của cây được dùng để chỉ ‘lá phổi’ của người, ‘quả’ được dùng để chỉ ‘quả tim’ của người, và người cũng có thể ‘hót’ hay; trong tiếng Anh, ‘fish’ là “cá” nhưng cũng có thể là ‘người bị mồi chài’; trong tiếng Nga, ‘mesok’ là “cái bao tải” nhưng cũng có thể là ‘người vụng về’.

Qua các ví dụ trên, ta có thể thấy rằng trong phép biến đổi ý nghĩa từ bằng ẩn dụ, ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của từ đều bị thay đổi, song giữa các ý nghĩa khác nhau của từ vẫn có một hoặc một vài nét nghĩa chung (ví dụ: hình dáng, chức năng, cách thức) – đó là nét nghĩa chi phối của từ.

Tất cả các phương thức biến đổi ý nghĩa của từ trên đây đều là những phương thức làm cho ý nghĩa của từ được mở rộng để biểu thị được nhiều sự vật, hiện tượng hơn, tức là làm cho từ trở thành từ nhiều nghĩa. Ngoài phương hướng mở rộng ý nghĩa nêu trên, người ta còn nói tới sự biến đổi nghĩa theo hướng thu hẹp ý nghĩa của từ, làm cho từ biểu thị được ít sự vật, hiện tượng hơn. Tuy nhiên, xét về bản chất, trong ngôn ngữ không có hiện tượng thu hẹp nghĩa mà chỉ có hiện tượng mở rộng nghĩa, bởi vì cái gọi là hiện tượng thu hẹp nghĩa thực chất cũng là phương thức mở rộng ý nghĩa của từ theo hướng bổ sung một hay một vài ý nghĩa/ nét nghĩa cụ thể nào đó cho từ.
Thực vậy, từ ‘nước’ trong tiếng Việt chẳng hạn, trước đây nó vốn được dùng để chỉ ‘chất lỏng’ nói chung, rồi sau đó được bổ sung thêm ý nghĩa “chất lỏng không màu, không mùi, không vị”. ý nghĩa này được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực khoa học. Đó chính là sự thu hẹp nghĩa. Như vậy, sự thu hẹp nghĩa của từ ‘nước’ để nó có thể làm một thuật ngữ khoa học đã làm cho nó có thêm một nghĩa mới (nghĩa thuật ngữ), bên cạnh nghĩa thường dùng trong giao tiếp hàng ngày. Nhưng đó lại chính là sự mở rộng nghĩa của từ. Vả lại, suy cho cùng thì sự biến đổi ý nghĩa của từ chính là sự thay đổi trong cấu trúc ý nghĩa biểu niệm của từ theo hướng thay thế hoặc bổ sung các nét nghĩa: các nét nghĩa khái quát của từ được thay thế/bổ sung bằng những nét nghĩa cụ thể hơn, hoặc ngược lại: các nét nghĩa cụ thể được thay thế/ bổ sung bằng những nét khái quát hơn (so sánh: ‘chất lỏng’ và ‘chất lỏng, không màu, không mùi, không vị’). Cả hai đường hướng đó rốt cuộc đều dẫn đến kết quả là làm cho từ biểu đạt được nhiều sự vật, hiện tượng hay khái niệm hơn.

Sự biến đổi ý nghĩa của từ

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Bảy 5, 2020

LÊ Đình Tư
(Trích từ: Lê Đình Tư & Vũ Ngọc Cân. Nhập môn ngôn ngữ học. Hà Nội, 2009)

1. Biến đổi ý nghĩa của từ là gì?

Trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của xã hội, thường xuyên xuất hiện những nhu cầu về từ và cách diễn đạt để biểu thị những sự vật, hiện tượng hay khái niệm mới, cũng như để tạo ra những hiệu quả giao tiếp mới. Song, nếu chỉ đáp ứng các nhu cầu đó bằng cách tạo ra ngày càng nhiều từ mới thì đến một lúc nào đó, hệ thống ngôn ngữ sẽ bao gồm một số lượng rất lớn các đơn vị từ vựng. Điều đó có thể làm cản trở quá trình giao tiếp, do người ta phải ghi nhớ quá nhiều đơn vị. Mặt khác, trong quá trình phát triển của xã hội, một số sự vật hiện tượng hay khái niệm bị mất đi hoặc thay đổi đi. Do đó, những đơn vị từ vựng biểu thị chúng có thể bị loại bỏ. Để khắc phục tình trạng này, ngôn ngữ một mặt cho phép sử dụng khả năng kết hợp những yếu tố hữu hạn trong hệ thống với nhau để diễn đạt cái vô hạn trong lời nói và tạo ra một số lượng nhất định các yếu tố mới, song mặt khác, cũng cho phép sử dụng những đơn vị từ vựng có sẵn nhưng thay đổi nghĩa cũ đi hoặc bổ sung thêm nghĩa mới. Khả năng thứ hai này dẫn đến sự biến đổi ý nghĩa của từ. Sự biến đổi ý nghĩa của từ là một trong những hình thức hoạt động cơ bản của hệ thống từ vựng để đáp ứng nhu cầu về các phương tiện biểu đạt. Do sự biến đổi ý nghĩa của từ mà trong các ngôn ngữ, một số từ trở thành từ nhiều nghĩa (hoặc cũng được gọi là từ đa nghĩa).

Sự biến đổi ý nghĩa của từ thực chất là lấy một từ để biểu đạt một số loại sự vật có quan hệ gần gũi với nhau về một phương diện nào đấy, cho nên giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩa vẫn có những mối liên quan nhất định. Sự khác nhau giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩa không phải là sự khác nhau hoàn toàn: sự biến đổi ý nghĩa ở đây thường đi theo xu hướng làm thay đổi một thành phần ý nghĩa nào đấy của từ. Do đó, nói đến hiện tượng nhiều nghĩa, ta có thể phân biệt các trường hợp:

Nhiều nghĩa do sự biến đổi về ý nghĩa biểu vật. Đây là trường hợp thay đổi mối quan hệ giữa từ ngữ âm với sự vật hay hiện tượng (gọi là cái biểu vật). Chẳng hạn, từ ‘mũ’ trong tiếng Việt có thể có hai ý nghĩa biểu vật (ví dụ: ‘mũ đội đầu’ và ‘mũ van’), nhưng thực ra ý nghĩa biểu niệm chỉ là một (cái dùng để chụp lên đầu người hay vật).

Nhiều nghĩa do sự biến đổi ý nghĩa biểu niệm. Đó là trường hợp làm thay đổi mối quan hệ giữa vỏ âm thanh của từ với nội dung khái niệm mà từ biểu thị (cái biểu niệm). Ví dụ: Trong từ ‘che’ của tiếng Việt, ta có thể phân biệt hai ý nghĩa biểu niệm khác nhau: 1) Dùng một vật để phủ hoặc bịt nhằm ngăn không cho nhìn thấy một vật khác, ví dụ như ‘che miệng’, ‘che mắt’; 2) Dùng một vật phủ hoặc bịt nhằm ngăn cản tác động từ bên ngoài đối với một vật khác, ví dụ như ‘che nắng’, ‘che mưa’. Trong cả hai trường hợp này, thành phần ý nghĩa biểu vật có thể chỉ là một.

Nhiều nghĩa do sự biến đổi ý nghĩa ngữ dụng. Đó là khi có sự thay đổi về sắc thái biểu cảm của từ. Thường thì sự thay đổi này đi theo hai hướng: 1) Bổ sung sắc thái biểu cảm cho một từ vốn có nghĩa trung hoà về mặt biểu cảm, chẳng hạn như từ ‘tếch’ của tiếng Việt được bổ sung thêm ý phê phán (ví dụ: “Thế là hắn tếch thẳng”); 2) Thay đổi giá trị biểu cảm của từ (xấu đi hay tốt lên), ví dụ như từ ‘tệ’ trong tiếng Việt vốn có nghĩa tiêu cực (như trong: ‘đối xứ tệ’), nhưng có thể được dùng với nghĩa tích cực (ví dụ như trong: “Con bé ấy có duyên tệ”).

– Hiện tượng từ nhiều nghĩa là hiện tượng phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ. Trong tiếng Nga chẳng hạn, từ ‘golova’ có thể dùng để chỉ ‘cái đầu’, ‘đầu óc’ (ví dụ: ‘sv’etnaja golova’ = đầu óc sáng suốt), nhưng cũng có thể dùng để chỉ ‘người đứng đầu’ (ví dụ: ‘gorodskoj golova’ = thị trưởng) hoặc “hàng đầu” (ví dụ: ‘idti v golove’ = đi hàng đầu), v.v…, hay trong tiếng Anh: từ ‘hand’ có thể chỉ ‘bàn tay’, ‘phía’ (ví dụ: ‘on all hands’ = từ mọi phía), ‘công nhân’ (ví dụ: ‘hands wanted’ = tuyển mộ công nhân), kim đồng hồ, v.v…

– Cần phải lưu lý một điều là không nên lẫn lộn ý nghĩa của từ với cách dùng từ. Cách dùng từ là sự lựa chọn và sử dụng từ theo một nghĩa cụ thể nào đó trong lời nói. Nó mang tính chất cá nhân và nhất thời. Trong khi đó thì ý nghĩa của từ là cái nội dung chứa đựng trong từ đã được xã hội chấp nhận và có tính bền vững tương đối. Chẳng hạn, nghĩa của từ ‘cắn’ trong ‘nước cắn da’ thuộc về cách dùng từ. Tất nhiên, khi dùng một từ, người ta phải dựa vào ý nghĩa của nó và trên cơ sở ý nghĩa đó mà phát triển thêm. Có những trường hợp, cách dùng từ được xã hội chấp nhận và sau một thời gian, nó trở thành ý nghĩa chung của từ. Ví dụ: Từ ‘tồn tại’ trong tiếng Việt nguyên được dùng để biểu thị khái niệm triết học chỉ ‘giới tự nhiên vật chất, thế giới bên ngoài có một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý kiến, tư duy, cảm giác của chúng ta’. Nhưng sau đó, trong khẩu ngữ, người ta dùng nó với ý nghĩa ‘thiếu sót, nhược điểm’ hay ‘cái còn phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết’ (ví dụ: “Trong hoạt động công đoàn, còn có nhiều tồn tại”), và nghĩa này đã trở nên phổ biến, được xã hội sử dụng rộng rãi.

2. Các loại nghĩa trong từ nhiều nghĩa

– Từ có nhiều nghĩa, do đó muốn hiểu đúng ý nghĩa của từ, ta phải xem xét nó trong những tình huống hoặc ngữ cảnh cụ thể (sau đây ta sẽ gọi chung là ngữ cảnh). Ngữ cảnh, nói một cách đơn giản, là tình huống, bối cảnh ngôn ngữ, trong đó từ xuất hiện với một ý nghĩa cụ thể của nó. Thông qua ngữ cảnh, ta có thể xác định được những yếu tố hạn chế phạm vi ý nghĩa của từ, làm cho nghĩa được sử dụng nổi rõ lên. Đó là các yếu tố liên quan đến người nói, người nghe, địa điểm giao tiếp, thời gian giao tiếp, môi trường ngôn ngữ của từ, v.v… Trong một ngữ cảnh cụ thể, ta sẽ hiểu đúng ý nghĩa đang được sử dụng của từ (trừ những trường hợp người ta cố ý tạo ra cách hiểu nước đôi của từ). Ví dụ: ý nghĩa của từ ‘dầu’ trong tiếng việt chỉ có thể xác định được nhờ vào ngữ cảnh, bởi vì đó có thể là ‘dầu ăn’, ‘dầu bôi trơn’, ‘dầu đun bếp’, v.v…

– Mỗi một từ nhiều nghĩa thường có nghĩa cơ bản, hay nghĩa chính, và nghĩa mở rộng hay nghĩa phụ. Nghĩa cơ bản thường là nghĩa gốc của từ, tức là cái nội dung khái niệm nguyên thuỷ mà từ được dùng để biểu thị. Trái lại, nghĩa mở rộng thường được hiểu là nghĩa được bổ sung thêm vào từ bằng cách mở rộng nghĩa cơ bản. Thông thường, nghĩa mở rộng được hình thành do sự liên tưởng với nghĩa cơ bản theo một cách thức nào đấy (ví dụ: theo sự giống nhau về hình dáng, kích thước, màu sắc, công dụng, v.v…). Chẳng hạn, từ ‘head’ của tiếng Anh có nghĩa chính là ‘cái đầu’. Căn cứ vào hình dáng, vị trí, chức năng của “cái đầu” mà người ta đã mở rộng thêm ý nghĩa của từ này và do đó, nó còn có nghĩa là ‘bắp’ (bắp cải), ‘người đứng đầu’, ‘con’ (vật), ‘thủ trưởng’, ‘hàng đầu’, v.v… hay trong tiếng Nga, từ ‘lëgki’ có nghĩa là ‘nhẹ, thưa, mỏng manh’; dựa vào nghĩa chính này, người ta đã bổ sung thêm cho nó nhiều nghĩa phụ, chẳng hạn: ‘nhanh nhẹn’, ‘dễ dàng’, ‘nhẹ dạ’, ‘hời hợt’, v.v…

– Tuy nhiên, việc xác định nghĩa chính và nghĩa mở rộng của từ nhiều khi gặp nhiều khó khăn, vì rằng trong nhiều trường hợp, ranh giới giữa chúng không thật rõ rệt. Sau một thời gian sử dụng, nghĩa mở rộng có thể dần dần trở thành một nghĩa chính khác của từ. Chẳng hạn, những ý nghĩa “trông đẹp ra”, “bán chạy”, “hút” của từ ‘ăn’ (ví dụ: ‘ăn ảnh’, ‘ăn khách’, ‘ăn thuốc’) là những nghĩa mở rộng được hình thành trên cơ sở của nghĩa chính là “nhai và nuốt thức ăn”, nhưng hiện nay các nghĩa đó đã trở thành những nghĩa chính khác của từ ‘ăn’. Nói chung, ta có thể căn cứ vào mức độ phụ thuộc vào ngữ cảnh để phân biệt hai loại nghĩa trên của từ: thường thì nghĩa chính là nghĩa mà người sử dụng ngôn ngữ có thể nói ra ngay mà không cần phải có ngữ cảnh, còn nghĩa mở rộng là những nghĩa cần phải có ngữ cảnh mới có thể xác định được. Thực vậy, khi nghe thấy từ ‘đứng’ chẳng hạn, người Việt trước tiên liên tưởng đến cái nghĩa chính của nó là “trạng thái cố định tương đối (không di chuyển), lưng giữ thẳng, chân duỗi, bàn chân giẫm đất” mà không cần một ngữ cảnh nào cả. Còn nghĩa ”được xếp hạng” của nó thì cần phải có ngữ cảnh đi kèm mới có thể nhận thấy được (ví dụ như trong: “đứng nhất lớp”). Như vậy, mức độ phụ thuộc vào ngữ cảnh của ý nghĩa từ ở đây cần được hiểu là khả năng nhận biết một ý nghĩa của từ khi từ bị tách ra khỏi ngữ cảnh, chứ không nên hiểu là sự phụ thuộc của nghĩa từ vào ngữ cảnh nói chung, bởi vì như trên đã nói, đối với một từ nhiều nghĩa thì việc xác định một nghĩa cụ thể của nó luôn luôn phụ thuộc vào ngữ cảnh.

– Ngoài việc phân biệt hai loại nghĩa như trên, người ta còn có thể phân biệt nghĩa đennghĩa bóng của từ. Song thực ra, đây chỉ là cách gọi khác của nghĩa cơ bản và nghĩa mở rộng, chỉ có điều khái niệm nghĩa bóng theo cách hiểu thông thường có nội hàm hẹp hơn nghĩa mở rộng, và do đó, người ta thường nói tới nghĩa bóng trong những trường hợp nghĩa mở rộng gợi ra sự liên tưởng nước đôi hay hiệu quả văn học. Đó là những trường hợp sử dụng từ mang tính cá nhân nhiều hơn.

– Cuối cùng, cần phải nói thêm rằng: Cũng giống như ở mặt cấu tạo của từ, mối quan hệ giữa các loại ý nghĩa trong từ nhiều nghĩa có khi mang tính chất tầng bậc và do đó, người ta cũng có thể nói tới nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh thuộc những cấp bậc khác nhau. Chẳng hạn, từ một nghĩa cơ bản ban đầu (nghĩa gốc), người ta mở rộng thêm một nghĩa nào đấy, rồi sau đó lại bổ sung thêm một ý nghĩa khác trên cơ sở của nghĩa mở rộng đó… Ví dụ: từ ‘thẻ’ trong tiếng Việt có nghĩa gốc là ‘mảnh tre hay gỗ được dùng để viết khi chưa có giấy’; trên cơ sở nghĩa này, người ta bổ sung thêm nghĩa ‘mảnh tre, hay gỗ… có ghi một nội dung bói toán’, rồi sau đó trên cơ sở nghĩa mở rộng này, người ta lại bổ sung thêm nghĩa ‘mảnh xương hay ngà có ghi chức tước của quan lại để họ đeo ở trước ngực’ và cuối cùng từ này lại được dùng để chỉ chung tất cả các loại ‘giấy chứng nhận tư cách thành viên của một tổ chức nào đấy’ (ví dụ: ‘thẻ hội viên’, ‘thẻ đảng’, ‘thẻ khác hàng’).

Ý nghĩa của từ (tiếp theo)

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 26, 2020

4. Ý nghĩa ngữ dụng

Đây là thành phần ý nghĩa liên quan đến việc sử dụng từ trong các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ.

Trong các hoạt động giao tiếp cụ thể, ý nghĩa của từ phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoài ngôn ngữ, ví dụ như: mối quan hệ giữa người nói và người nghe, hoàn cảnh giao tiếp, các quy định của xã hội về ứng xử ngôn ngữ, các quan niệm về giá trị văn hóa …Vì vậy, ý nghĩa ngữ dụng của từ là ý nghĩa được bổ sung vào các thành phần ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của từ trong các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ cụ thể và nói chung rất khó xác định một cách chắc chắn. Chính vì lí do này mà khi nói đến ý nghĩa của từ, người ta thường chỉ tập trung vào hai thành phần ý nghĩa là ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm. Tuy nhiên, theo một cách hiểu hẹp hơn thì ý nghĩa ngữ dụng là thành phần ý nghĩa mà nhờ đó từ có thể biểu thị được thái độ, tình cảm của người nói và tác động đến thái độ, tình cảm của người nghe. Ví dụ: Các từ ‘thâm sì’, ‘trắng dã’ của tiếng Việt không chỉ biểu thị sắc thái ‘đen’ hay ‘trắng’ mà còn biểu thị thái độ khinh bỉ, chê bai (khi nói về môi: ‘môi thâm sì’ hay về mắt: ‘mắt trắng dã’). Theo cách hiểu này thì ý nghĩa ngữ dụng của từ là thái độ, tình cảm mà một từ có thể gợi ra.

Nói chung, ý nghĩa ngữ dụng của từ thường xuất hiện trong lời nói. Hoàn cảnh giao tiếp cụ thể sẽ làm nổi rõ thành phần ý nghĩa này của từ. Vì vậy, muốn xác định ý nghĩa ngữ dụng của từ phải căn cứ vào các tình huống giao tiếp ngôn ngữ cụ thể, tức là dựa vào ngữ cảnh hoặc/và chu cảnh vật lí, trong đó từ được sử dụng.

5. ý nghĩa ngữ pháp

Đây là những thông tin đã được mã hoá trong từ mà dựa vào đó ta có thể tạo lập hoặc nhận biết các mối quan hệ giữa các từ.

Chẳng hạn, trong từ ‘worker’ của tiếng Anh, ngoài hai thành phần ý nghĩa biểu vật và biểu niệm nêu trên, còn có các thông tin sau đây:

– là một danh từ
– là một danh từ số ít.
– là một từ phái sinh (căn tố động từ + phụ tố).

Do đó, trước nó thường phải có quán từ (‘the’ hoặc ‘a’) và khi kết hợp nó với động từ thì động từ phải được biến đổi ở ngôi số ít. Hoặc như từ ‘nhà’ trong tiếng Việt: Nó có ý nghĩa sự vật, do đó nó là danh từ; nó là danh từ có biệt loại, do đó có thể kết hợp với loại từ ‘ngôi’; nó là danh từ đếm được, nên có thể trực tiếp kết hợp với các từ chỉ số lượng. Chẳng hạn, có thể nói: ‘cái nhà này’, ‘một ngôi nhà’, ‘một nhà’… nhưng không thể kết hợp nó với ‘sẽ’ hay ‘rất’ vốn là những từ đi kèm với động từ hoặc tính từ.

Bốn thành phần ý nghĩa này được quy thành hai phạm trù ý nghĩa: ý nghĩa từ vựng, và ý nghĩa ngữ pháp

Ý nghĩa từ vựng của từ bao gồm các thành phần ý nghĩa sau đây: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa ngữ dụng.

Ýnghĩa ngữ pháp của từ cũng bao gồm những thành phần ý nghĩa nhỏ hơn là: ý nghĩa từ pháp, ý nghĩa từ loại và ý nghĩa quan hệ (sẽ nói rõ hơn ở phần sau).

Cần phải nói thêm rằng, không phải tất cả các từ của ngôn ngữ đều có đầy đủ các thành phần ý nghĩa như đó nêu ở trên. Có những từ vừa có ý nghĩa từ vựng vừa có ý nghĩa ngữ pháp (các từ chỉ những sự vật, hiện tượng tồn tại thực hoặc được coi như có thực trong thực tế khách quan, ví dụ: bàn, tủ, lúa, gạo) – đó gọi là thực từ. Song lại có những từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp (các từ công cụ, ví dụ như và, với, của) – đó là những hư từ. Có những từ không có, hoặc về nguyên tắc không có thành phần ý nghĩa ngữ dụng (như trường hợp các thuật ngữ khoa học-kĩ thuật). Các từ biểu thị khái niệm trừu tượng là những từ có ý nghĩa biểu niệm mà không có ý nghĩa biểu vật, ví dụ như ‘tinh thần’, ‘thiện chí’, trong khi đó thì danh từ riêng lại chỉ có ý nghĩa biểu vật mà không có ý nghĩa biểu niệm.

Ý nghĩa của từ

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 12, 2020

LÊ Đình Tư
(Trích từ: Lê Đình Tư & Vũ Ngọc Cân. Nhập môn ngôn ngữ học. Hà Nội, 2009)

1. ý nghĩa của từ là gì?

Khi nói đến ý nghĩa của từ, người ta thường nghĩ đến sự vật, hiện tượng hay nội dung khái niệm về sự vật, hiện tượng mà từ biểu thị. Nội dung khái niệm chính là sự phản ánh của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan vào trong từ. Chẳng hạn từ ‘nhà’ trong tiếng Việt vừa gợi ra cho ta ‘hình ảnh về những ngôi nhà’ trong thực tế khách quan, vừa gợi lên nội dung khái niệm về một ‘công trình xây dựng có mái che, có tường vách, dùng làm nơi ở hay nơi làm việc’.

Tuy nhiên, từ không chỉ có một chức năng là gọi tên sự vật, hiện tượng, hay biểu thị khái niệm. Từ còn có cả chức năng biểu thị thái độ, tình cảm của con người đối với hiện thực. Chẳng hạn, khi sử dụng các từ ‘hy sinh’ hay ‘toi mạng’, người Việt đều muốn tỏ thái độ, tình cảm (tích cực hoặc tiêu cực) của mình đối với đối tượng được nói tới và nhờ đó tác động đến thái độ, tình cảm của người nghe.

Ngoài ra, khi được dùng để đặt câu, từ còn có thêm một chức năng nữa: chức năng biểu thị quan hệ ngữ pháp, tức chức năng ngữ pháp. Chức năng ngữ pháp của từ liên quan đến khả năng kết hợp của từ với những từ khác trên dòng lời nói, và điều đó lại liên quan đến cấu trúc của từ. Chẳng hạn, khi được sử dụng trong lời nói, dạng thức từ ‘student’ (sinh viên) của tiếng Nga chỉ có thể làm ‘chủ thể ở số ít’ của động từ – đó là chức năng chủ ngữ, chứ không thể là đối tượng của hành động – tức là bổ ngữ trong câu. Điều đó được quy định bởi cấu trúc của nó: với cấu trúc hình thức ấy, nó luôn là: danh từ giống đực, số ít, nguyên cách và chỉ có thể giữ vai trò là chủ ngữ trong câu.

Do vậy, khi nói đến ý nghĩa của từ, ta cần phải hiểu rằng đó là một tập hợp của những thành phần ý nghĩa khác nhau, ứng với các chức năng khác nhau của từ.

Trong giới ngôn ngữ học, việc phân biệt các thành phần ý nghĩa của từ có thể không giống nhau. Thường thì người ta phân biệt hai thành phần ý nghĩa chủ yếu của từ: 1) ý nghĩa liên quan đến hiện thực ngoài ngôn ngữ (sự vật, hiện tượng hay khái niệm về sự vật, hiện tượng), và 2) ý nghĩa liên quan đến nội bộ hệ thống ngôn ngữ (khả năng kết hợp của từ). Song, cách phân biệt này nhiều khi không vạch được ranh giới rõ ràng cho các thành phần ý nghĩa của từ, vì hệ thống ngôn ngữ và hiện thực ngoài ngôn ngữ có liên quan mật thiết với nhau. Điều đó dẫn đến sự chồng chéo của các thành phần ý nghĩa. Bởi vậy, trong ngôn ngữ học hiện đại, người ta thường phân biệt bốn thành phần ý nghĩa của từ (ở đây phải tạm coi là từ chỉ có một nghĩa). Đó là: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa ngữ dụngý nghĩa ngữ pháp.

2. Ý nghĩa biểu vật của từ

Ý nghĩa biểu vật còn được gọi là ý nghĩa sự vật hoặc ý nghĩa sở chỉ. Đây là thành phần ý nghĩa liên quan đến chức năng biểu thị sự vật/hiện tượng của từ. Ý nghĩa này phản ánh bản thân các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan hoặc đặc trưng, tính chất… của chúng.

Tuy nhiên, đối tượng mà từ biểu thị lại không phải là một sự vật hay hiện tượng cụ thể, đơn lẻ nào của thực tế khách quan mà là một sự vật hay hiện tượng mang tính khái quát có thể đại diện cho các sự vật hay hiện tượng cùng loại. Thật vậy, từ ‘bàn’ trong tiếng Việt được dùng để chỉ mọi cái bàn có thể có trong thực tế khách quan, cho dù đó là bàn gỗ, bàn sắt, bàn vuông, bàn tròn, bàn ba chân, bàn bốn chân… . Từ ‘bàn’ chỉ có thể có được khả năng ấy, nếu nó không gắn với một cái bàn cụ thể nào cả. Nói cách khác, “cái bàn” mà từ ‘bàn’ trong tiếng Việt biểu thị là một cái bàn chung chung, một cái bàn đã được khái quát hoá để đưa vào ngôn ngữ. Nhờ đó, trong hoạt động giao tiếp, từ ‘bàn’ sẽ ứng được với tất cả những cái bàn cụ thể, bằng cách gợi lên trong tâm lý người sử dụng ngôn ngữ hình ảnh của những cái bàn mà họ muốn nói tới.

Do vậy, có thể nói: ý nghĩa biểu vật là hình ảnh chung nhất của tất cả các sự vật, hiện tượng cùng loại mà từ có thể gọi tên hay gợi ra. Hoặc cũng có thể nói theo cách khác: Sự tương ứng giữa từ và sự vật hay hiện tượng là sự tương ứng mang tính tổng loại (toàn loại) chứ không phải sự tương ứng theo kiểu một – một. Điều này cũng đúng với cả những trường hợp mà ý nghĩa biểu vật của từ là một sự vật duy nhất thuộc loại, ví dụ như trường hợp các từ mặt trời, mặt trăng hay thượng đế chẳng hạn, bởi lẽ ngay cả trong các trường hợp này, từ cũng loại bỏ mọi biểu hiện riêng biệt của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, chỉ giữ lại những gì chung nhất, tức là những cái có tính chất tổng loại. Ví dụ: từ ‘mặt trăng’ chỉ biểu thị một mặt trăng chung chung, mà trong thực tế có thể ứng với ‘trăng non’, ‘trăng rằm’, ‘trăng mùa hạ’, ‘trăng mùa thu’, v.v…

Như vậy, ý nghĩa biểu vật của từ không phải là sự vật hay hiện tượng đúng như nó tồn tại trong thực tế khách quan mà là một sự vật, hiện tượng thuộc phạm trù ngôn ngữ, là sự phản ánh các sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan vào trong ngôn ngữ. Cho nên, sự vật/hiện tượng do từ biểu thị được gọi là ‘cái biểu vật’ (‘denotat’). Cái biểu vật chính là hình ảnh chung nhất về sự vật/ hiện tượng mà từ gợi ra và có thể khác nhau giữa các ngôn ngữ, thậm chí giữa các cá nhân, do đặc điểm hiện thực của mỗi dân tộc hay của mỗi người. Ví dụ : Hình ảnh ‘cánh đồng’ trong tâm trí người Nga, người Pháp và người Việt không hoàn toàn giống nhau.

(còn nữa)
________________________________________________

Tặng phẩm của ngôn ngữ: Thói “ăn” nếp “ở” của người Việt qua cách nói

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 30, 2020

Ngô Nguyên Dũng

Không biết có phải do hoàn cảnh thiếu ăn thiếu mặc từ xa xưa, mà người Á đông nói chung, người Việt nói riêng, đặc biệt quan tâm tới miếng ăn. Ăn không phải chỉ để sinh tồn, mà còn để hưởng thụ: Ăn đứng đầu tứ khoái. Ăn cho sướng miệng cái đã, mấy chuyện khác tính sau.

Ở đâu lúc nào, một mình hay nhiều mình, cũng thấy ăn. Thui thủi, trơ trọi ở nhà, lục lọi coi có cái gì ăn cho đỡ buồn. Ra đường, đi chơi hay lo việc, trước hay sau gì cũng phải kiếm cái gì dằn bụng. Ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối, ăn khuya. Vì vậy, trong tiếng Việt có vô số động từ đôi đi chung với “ăn”. Điểm này không thấy có trong ngôn ngữ của các dân tộc khác.

Nhưng “ăn” nhiều khi lại không có nghĩa là “ăn”, mới lạ!

Tụ họp đình đám, lễ lạt giỗ tết, người mình nói “ăn cưới”, “ăn tết”, “ăn giỗ”, “ăn cúng”, “ăn đám ma”, … Từ “ăn” trong những nhóm chữ này rõ ràng là hành động đưa thực phẩm vào miệng, nhai rồi nuốt, không thoát đi đâu được. Giống như “ăn” trong “ăn khín”, “ăn chực”, cũng là “ăn”, nhưng hàm ý không mấy tốt, tới ăn không ai mời, hoặc có mời nhưng sau đó lại nhiếc móc sau lưng: “Cái thằng đó ưa tới nhà mình nhằm giờ cơm để ăn khín mà không biết mắc cỡ!” Nhưng “ăn chực” trong thành ngữ “ăn chực nằm chờ” lại ngụ ý: kiên nhẫn chờ được giải quyết một vấn đề gì đó. Có lẽ bắt nguồn từ xưa: mỗi khi dân chúng từ những nơi xa xôi có việc tới nhà quan ở chợ, ở tỉnh, ở kinh thành, thường đem theo đồ ăn thức uống để lót bụng, vì biết chắc thế nào cũng phải chờ đợi lâu lắc, lắm khi dăm ba ngày liên tiếp; ăn để chực chờ tới lượt được vô hầu quan lớn.
Phong cách ăn uống, nói năng giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong truyền thống phong tục, lễ giáo của người Việt. Con cái, đặc biệt là con gái (vì thời xưa không được tới trường), được cha mẹ dạy cho “học ăn, học nói, học gói, học mở”, coi như những chuẩn mực để xử thế và giao tiếp trong gia đình, họ hàng và ngoài xã hội. Nghĩ rộng, thấy bốn món “công, dung, ngôn, hạnh” được gói ghém gần như trọn vẹn trong đó. (Tới đây, người viết xin được mở dấu ngoặc, đặt dấu hỏi lớn về nghĩa đen và nghĩa bóng của cụm từ “học gói, học mở” trong thành ngữ này. Tự điển Việt ngữ có vài cách giải thích khác nhau, không biết thực hư ra sao?). Vậy, “ăn” khi đi chung với “nói” được hiểu là đối đãi, cư xử. Nhưng khi cặp kè với “nhậu”, tuỳ theo cách nói, lại có nghĩa hoàn toàn khác: “Chuyện vợ chồng người ta không ăn nhậu gì tới mình, mình xía vô đâm ra mất lòng.” Ở đây, không biết vì nỗi niềm trắc trở gì mà “ăn nhậu” cương quyết chia tay, không còn luyến tiếc chút dư vị nào của “ăn uống, nhậu nhẹt” nữa, để cải trang, đổi lớp thành “dính líu, dính dáng”. Lạ, nhưng không lớn!

Chuyện lớn chỉ thực sự xảy ra, khi “ăn”… lỡ chung chạ với “nằm”. Mẹ quát con gái: “Hả, cái gì? Bộ đui hay sao mà mày ăn nằm với cái thằng trời đánh thánh đâm, lưu manh láu cá đó? Trời ơi là trời, con ơi là con!” Nhất định là phải có “ăn” vô đây thì “nằm” mới trọn nghĩa “tằng tịu” của nó, và được dùng để ám chỉ những trường hợp chung đụng xác thịt không chính thức. Vợ chồng với nhau, không ai (hoặc không nên) nói “ăn nằm”, mà nói “ăn ở”. Khi người vợ rưng rưng nước mắt trách cứ: “Vợ chồng mình ăn ở với nhau bảy mặt con, không còn tình cũng còn nghĩa, mình nỡ lòng nào ăn nằm với con ở. Bây giờ, nó chang bang một bụng, em biết ăn nói sao đây với con cái?” Nghe thương xót biết mấy! Và, “ăn nói” trong tình huống này, có thêm nghĩa “giải thích, làm sáng tỏ”, ở đây là lý do tại sao cái bụng chị ở không dưng càng ngày càng phình 1ớn một cách vô cùng khó hiểu.

Chuyển qua “ăn vụng”. Nghĩa đen ý nói “giải quyết cái đói một cách lén lút”: “Nhà tôi có tật ăn vụng ban đêm, khuya nào cũng thức dậy, xuống bếp lục cơm nguội.” Chuyện không sao cả. Nhưng tới lúc nàng nghiến răng trèo trẹo cảnh cáo: “Tôi nói cho anh biết, anh mà lén tôi đi ăn vụng, tôi biết được, đừng có trách tôi ác!” Và, tới khi bạn gái trề môi nhún mỏ rỉ tai nhau: “Ai kêu, ăn vụng không biết chùi mép, bị vợ đuổi ra khỏi nhà, đáng đời!”, thì chuyện đã… mọc trăng sao, đang tối thành sáng trưng; hành động “ăn vụng” trở mặt, chỉ còn độc nhất một nghĩa bóng: “Đã có gia đình, còn đi ngoại tình.”

Trực tiếp hay gián tiếp cùng nghĩa với “ăn”, trong tiếng Việt có “ăn xin”, “ăn mày”: “Xin” người khác để có miếng ăn, để sinh sống (chữ “mày” trong “ăn mày” ngụ ý gì, có dính dáng gì tới “mày ốc”, “mày ghẻ” hay không, người viết không rõ.) Không riêng gì ở Việt nam, mà khắp nơi trên thế giới, đều có người ăn mày. Thậm chí, như ở Việt nam, có cả làng sống bằng nghề ăn mày, từ đời cha tới đời con. “Ăn mày”, vì vậy, nghiễm nhiên trở thành cái nghề. Để rồi, từ “nghề” chuyển ra “nghiệp”, đâu mấy hồi. Sinh ra, vướng nghiệp “ăn mày”, cuộc đời hẳn nhiên rách, rách lắm. Đâu mấy ai nhờ đó mà “ăn nên làm ra”?

Ở Pháp, tin mạng có trang “Ăn mày văn chương”, nghe rất “ấn tượng”. Nhưng cá nhân tôi không thấu đáo hai chữ “ăn mày” ở đây hàm ý gì. Văn chương chữ nghĩa là tặng phẩm của ngôn ngữ dành cho tất cả chúng ta, nào phải sở hữu riêng ai để mình xin xỏ hay đem bố thí cho người khác!

Qua tới các động từ “ăn cắp”, “ăn trộm”, “ăn cướp” thì đột nhiên “ăn” không còn ý nghĩa là hành động giải quyết cái đói nữa (hay có, nhưng rất gián tiếp), mà: lấy của người khác làm của riêng.
Ca dao có câu:

Con ơi học lấy nghề cha,
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm.

Thì ra, không phải chỉ có nghề “ăn mày”, có cả nghề “ăn trộm” nữa kia. Và, cái nghề này hứa hẹn một tương lai sáng sủa hơn nhiều. “Ăn trộm” trúng mẻ, trời ạ, “thu nhập” ngang ngửa tới ba năm làm. Nghe bắt ham!
Dĩ nhiên, đã là nghề thì phải có trường ốc đào tạo, để học viên rành rẽ bài bản sáu câu mùi mẫn sau khi tốt nghiệp học đường “ăn xin”, và có chiến thuật tiến thoái gọn gàng, êm thắm, không để lại dấu vết khi thành tài “ăn trộm”. Theo học trường ốc ở đây, học viên không cần ghi danh, đóng lệ phí, cũng không nên hy vọng sẽ có ngày được… bảng vàng ghi tên. Tất cả mánh mung được “sư phụ” chỉ giáo cho “đệ tử”, và hẳn là… lén lút theo truyền thống dân gian truyền khẩu, cha truyền con nối. Vì vậy, không thấy lưu lại sách vở, tài liệu gì, để hậu bối đưa lên tin mạng cho người viết… tiện việc tra cứu.

Trong văn chương, nữ sĩ Trúc Giang tự thú trong hồi ký “Tình yêu nuôi tôi lớn”, đã “ăn cắp thì giờ của con, của chồng để viết truyện, để làm thơ”. Động từ “ăn cắp” được chị biểu tượng hoá, sử dụng ẩn dụ rất khéo, đọc nghe ái ngại, không biết rồi chị có… bị sao không, có bị chồng con thưa ra toà phạt vạ hay tù tội gì không?

Trong khi “ăn cắp” và “ăn trộm” mang nghĩa lén lút, lặng lẽ, lấm lét lấy “cắp” và lấy “trộm” của người khác làm của riêng, thì “ăn cướp” là dùng võ lực lấy công khai, nhiều khi sử dụng cả dao găm, súng đạn để tước đoạt cho bằng được.

Con ơi nhớ lấy câu này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan
.

Khổ cho dân mình quá! Nhưng không phải chỉ có khổ không đâu, cũng có trường hợp dân chúng nhờ cướp mà sướng. Thời xưa, ở Tây có anh hùng Robin Hood, ở Tàu có “108 anh hùng Lương Sơn Bạc”. Rủi thay, chỉ sướng… ảo, vì các vị anh hùng thảo khấu nêu trên toàn là những nhân vật huyền thoại. Thời nay, tin mạng loan tin, ở Mỹ có anh quản lý ngân hàng “vừa bị tuyên án 41 tháng tù giam vì tội đã lấy tiền ở một số tài khoản của ‘người giàu’ bù vào tài khoản của ‘người nghèo’ tại ngân hàng nơi anh ta làm việc.” Khi bị phát giác, anh được các nhà tâm lý học chẩn bệnh, rằng anh mắc phải “hội chứng Robin Hood”. Dù vậy luật sư vẫn không cứu vãn cho anh được trắng án. Ấy, ngoài “hội chứng ăn cắp”, còn có thêm “hội chứng ăn cướp” nữa kia! Biết đâu chừng, dám có cả “hội chứng ăn chực, ăn khín” nữa, mà khoa tâm lý học chưa tìm ra!
Đàn bà, con gái khi không có gì ăn, tối tối ra đường ăn… sương, riết thành chuyên nghiệp: mang danh “gái ăn sương”, không được ai thương hại, mà còn bêu rếu. Thời đại bây giờ, đàn bà, con gái không còn độc quyền hành nghề này nữa, cả nam giới và, buồn thay, ngay cả thiếu niên nam nữ cũng nhảy vô cạnh tranh. Còn động từ “ăn đêm”, tôi nghĩ, không hẳn đồng nghĩa với “ăn sương”, mà gần với “ăn khuya” hơn. Ngoài ra, còn được dùng để chỉ “hành động đi kiếm mồi trong đêm tối” của muông thú, như trong bài đồng dao ru con:

Con cò mày đi ăn đêm,
đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao…

Ỷ mạnh hoặc vai vế lớn, người miền Bắc nói “bắt nạt”, người miền Nam dùng động từ “ăn hiếp”, thường nghe trẻ con hài tội lẫn nhau: “Thưa cô, trò A ăn hiếp con, mượn con cục gôm, con đòi không chịu trả, còn kí đầu con nữa!”

Khi có kẻ thừa cơ “chôm” của, hoặc đợi anh hùng hảo hán ra tay trước, rồi hùa theo lấy, người Việt mình nói “ăn hôi”. “Ăn tàn” trong thành ngữ “theo đóm, ăn tàn” cũng có nghĩa tương tự như vậy: “Cái thằng đó là hạng người ‘theo đóm ăn tàn’, không hiểu sao mầy ăn ở với nó tới sáu mặt con!” Nghe hèn lắm. Còn “ăn mót” nghe lại thấy tội: “Vợ chồng nó chuyên môn ăn mót lúa của người ta mà sống”, và chẳng có gì đáng hãnh diện, vậy mà tục ngữ có câu:

Muốn ăn cơm ngon, lấy con nhà đi mót.
Muốn ăn canh ngọt, lấy con nhà bắt cua.

Câu đầu, tôi không biết phải hiểu sao cho đúng. Có lẽ ở đây không hẳn chỉ nói chuyện đi mót lúa đem về nấu cơm? Và cả hai câu hàm ý bóng gió, khuyên người đời nên biết chọn ý trung nhân cho đúng… tâm nguyện “ăn uống” chăng?

Còn “ăn” trong “ăn quịt” nguyên thuỷ hẳn có nguồn gốc “ăn xong, lỉnh mất, không trả tiền”. Về sau được dùng chung cho mọi trường hợp, khi tiền bạc không được thanh toán sòng phẳng. Hai bà chủ nợ khuyên nhủ nhau: “Chị coi chừng cái thằng cha X, bản mặt nó bảnh bao vậy chớ chuyên môn mượn tiền rồi ăn quịt.” Nhưng khi “ăn” cặp kè với “vạ”, ngộ nghĩnh thay, “ăn” bay mất nghĩa gốc. “Ăn vạ” là tiểu xảo thường thấy ở tâm lý lì lợm của trẻ con và… cầu thủ đá banh. Nhiều bà mẹ thường than phiền: “Thằng út nhà tôi, mỗi lần đòi gì không được là lăn ra ăn vạ, khóc lóc thảm thiết, thấy ghê lắm!” Hoặc: “Cầu thủ Y cố tình ăn vạ, thay vì được quả phạt đền, lại bị trọng tài phạt vạ thẻ vàng.” “Ăn” trong trường hợp này, có lẽ gián tiếp ngụ ý “cầu thắng, để đạt được mục đích” chăng?

Tương tự như trong chuyện bài bạc. Vợ chồng Năm Chuột sống bằng nghề “bài ba lá”. Ngày nào đi làm về, anh Năm cũng bị vợ vặn hỏi: “Bữa nay ăn thua sao rồi?” Không chạy đi đâu, “ăn” ở đây đồng nghĩa với “thắng”. Giống như trong thành ngữ “ăn thua đủ”, có nghĩa “so tài đọ sức cho tới lúc thắng thua minh bạch mới thôi”: “Tư Lùn là tay anh chị thuộc hạng dế ốc tiêu, vậy mà gan cùng mình, dám ăn thua đủ với dế cơm Hai Búa, không sợ sứt càng gãy gọng sao ta!” Hoặc trong “ăn gian”: Gian lận để thắng. Nhưng nhiều khi còn được sử dụng thay cho “gian dối”: “Cô hoa hậu ăn gian chiều cao, cao có 1 thước 55 thôi mà dám nói cao tới 1 thước 72. Thiệt, xạo hết ý!” Chuyện nhỏ. Còn có người “ăn gian” trí thức nữa kia! Hãy nghe chị em bạn gái tâm sự với nhau: “Chị lấy nó về làm chồng, mới biết nó là đứa ăn gian bằng cấp, đi du học Liên-xô chỉ được bằng phó tiến sĩ thôi, mà dám khoe mình là tiến sĩ, nghe có tức không?”

Có ai muốn dằn mặt, cảnh cáo kẻ khác, chỉ cần đeo vũ khí, đạn dược cho “ăn” là đủ: “Nói cho mầy biết, chớ có đụng vô con nhỏ đó, chồng nó cho mầy ăn dao tức thì!” Hoặc khi đi chung với những hành động không mấy nhẹ nhàng như “tát”, “đấm”, “đá”, v.v… thì “ăn” có nghĩa “nhận lãnh, lãnh lấy hậu quả” không mấy êm đẹp. “Con bé coi vậy mà dữ, tao chỉ mới khều mông một cái nhẹ hều, đã bị nó cho ăn tát.” Đối với trẻ con, ăn gì cũng thích, chỉ không hảo mấy món “ăn đòn”, “ăn roi”, “ăn chổi lông gà”, v.v… mà thôi.

Gặp trường hợp bà mai đưa ảnh cho anh chàng kiếm vợ coi mặt, thòng theo câu nói: “Tại con nhỏ chụp hình không ăn ảnh, chớ ngoài đời cổ ngó coi đẹp gái lắm, chú à!”; hoặc có ai đó chặc lưỡi xuýt xoa: “Cô đào X lúc nhỏ té thùng đinh, mặt rỗ như tổ ong, vậy mà phấn son lên sân khấu, ăn đèn dễ sợ!”; từ “ăn” mất bén nghĩa gốc, mà có nghĩa “thích hợp, hoà hợp” với kỹ thuật chụp ảnh, trong “ăn ảnh”, cũng như với ánh đèn sân khấu, trong “ăn đèn”.

Nghĩa cũng gần như vậy, người Việt nói “ăn nhịp”, thường được sử dụng khi đàn ca hát xướng, và “ăn khớp” để chỉ trường hợp nói năng, hành động sao cho hợp lý, không mâu thuẫn nhau. Anh dẫn em đi quán bia ôm, trước khi về nhà, dặn dò thằng em: “Má hỏi, mày nhớ nói là mình đi ăn sinh nhật cho ăn khớp, không thôi bả đánh cho nát đít!”… Cùng nghĩa như vậy, nhưng đi đôi với tiếng… nước ngoài, Việt ngữ có động từ “ăn rơ”, với “rơ” được phiên âm từ jeu (trò chơi, cuộc chơi) của tiếng Pháp mà ra. “Trời ơi, chị em nhà Williams chơi quần vợt đôi ăn rơ với nhau hết sức.” Lẽ đương nhiên, cách nói này chỉ bắt đầu thông dụng từ khi có mặt người Pháp, ở thành thị, cũng như trong giới có… ăn học.

Phần trên có nhắc tới động từ kép “ăn ở”, ngoài ý nghĩa “đời sống vợ chồng” còn hàm ý chỉ “cách xử thế, đối đãi” với nhau, như trong trường hợp vợ Năm Chuột than thở cùng chồng: “Lúc nào vợ chồng mình cũng ăn ở hiền lành, phước đức, mà sao nghèo hoài hổng biết!”, nhưng khi người mẹ xẳng giọng với anh con trai đã ngoài năm mươi mà vẫn còn độc thân: “Mầy cứ ăn ở keo kiết như vậy, có chó nó lấy mầy làm chồng.” Hoặc khi cô con gái lắc đầu nguây nguẩy: “Con không ưng anh ấy đâu, người gì mà ăn ở dơ dáy như heo!”, nghĩ kỹ, thấy ra “ăn ở” đổi nghĩa hoá thành “thói ăn nếp ở” hoàn toàn có tính cách cá nhân, không đụng chạm gì tới người khác.

Thành ngữ Việt nam có vô số câu liên quan tới “ăn”. “Ăn không”, tiếng miền Nam, cùng nghĩa với “ăn vã”, tiếng miền Bắc, ý nói, chỉ ăn món chính, không kèm theo cơm, cháo, v.v… Khi đi chung với “ngồi rồi”, thành “ăn không ngồi rồi”, có nghĩa “rỗi việc”, nhưng không mấy tốt, gần như “vô tích sự”: “Từ khi anh ấy bị muỗi voi chích tới giờ, suốt ngày ảnh ăn không ngồi rồi, bí rị một chỗ, thấy chán lắm!”

“Ăn xổi”, với trạng từ “xổi” (“qua loa, tàm tạm”, thí dụ: cà pháo muối xổi), thuần tiếng Bắc, đi chung với “ở thì” (“ở ngắn hạn, nhất thời, có giai đoạn”), thành “ăn xổi ở thì”: nghĩa đen ý nói kẻ nào ăn ở với ai đó một thời gian ngắn để trục lợi, nghĩa bóng ám chỉ hạng người chỉ biết lợi dụng, bạc tình bạc nghĩa. Truyện Kiều có đoạn, khi chàng Kim lơi lả buông lời ong bướm (ngôn ngữ hiện đại nói là “thả dê”) đòi… ăn nằm, nàng Kiều bèn thỏ thẻ xổ… Nho và thành ngữ cảnh giác:

Phải điều ăn xổi ở thì,
Tiết trăm năm, nỡ bỏ đi một ngày!

Rõ là nàng Kiều được Vương ông Vương bà dạy cho “học ăn, học nói, học gói, học mở” khéo thì thôi!
Khi đứng trơ trọi một mình, “ở” có nhiều nghĩa, và không phải chỉ giữ vai trò động từ: “Anh ở lại đây với em tối nay nghe! Ở một mình, em sợ ma quá hà!”, mà cũng có thể là giới từ chỉ định xuất xứ, vị trí: “Cô ấy ở quê mới lên, nên ưa đi chân không ở trong nhà.”

Khi “ở” kết bạn với “đậu”, có nghĩa “sống nhờ, sống cậy” vào người khác. Với “đợ”, hoặc với “người” thành “người ở”: “tới sống chung để giúp việc nhà có lãnh lương”. “Con nhỏ đó ở dưới quê lên Sài gòn ở đậu nhà bà con, chờ kiếm ra chỗ ở đợ.” Với “vậy”, theo tôi, có hai nghĩa: “ở vá”: độc thân, không lập gia đình” (có tự điển ghi thêm, “vá” cũng còn có nghĩa như “goá”). Hoặc, “ở goá: sau khi vợ hoặc chồng chết, không lấy người nào khác.” V.v… và v.v… Tựu trung, trong tất cả những trường hợp nêu trên, “ở” có nghĩa “hoàn cảnh gia đình”.

Ở trên có nhắc tới “ăn không”, với “ở” ta có “ở không”: rảnh rỗi, không làm gì cả. “Nhân lúc vợ ở cữ, thi sĩ ở không, bèn lấy giấy viết tí toáy làm thơ tình gởi đăng nhật trình.” Tới đây, ta có thêm “ở cữ”: hoàn cảnh, thời gian sau khi sinh nở, cần kiêng cữ.

Thời trước, thi sĩ trào phúng Tú Mỡ có làm bài thơ tựa đề: “Sư cô ở cữ”.

… Nhưng rồi một sáng mùa thu,
Người ta thấy vị ni cô sượng sùng.
Bụng đeo cái trống cà rùng,
Đến nhà thương để tìm phòng khai hoa …

“Ăn” với “ở”, tóm lại, thường đi đôi với nhau như hình với bóng, như đũa có đôi, như môi răng, miệng lưỡi đặc thù hương vị ngôn ngữ của người Việt. Người viết xin được kết thúc bài tiểu luận ở đây với câu ca dao “hậu hiện đại” tự biên tự chế:

Ăn có đũa, ở có đôi.
Bậu ơi, khéo giữ trọn đời có nhau.

NHỮNG VẤN ĐỀ NGỮ NGHĨA HỌC ÂM VỊ

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 1, 2020

Lê Đình Tư
(Bài đã đăng trên Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ)

Ngôn ngữ học dường như đã an bài với quan niệm về tính hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ, trên cơ sở phân biệt hai bình diện của ngôn ngữ là bình diện biểu hiện và bình diện nôi dung hay bình diện ngữ nghĩa. Quan niệm này kéo theo một hệ luận bao trùm lên toàn bộ các đường hướng tiếp cận ngôn ngữ học từ trước đến nay: Nói về bình diện biểu hiện của ngôn ngữ là nói về cấu trúc hình thức của các đơn vị ngôn ngữ, còn nói về bình diện nội dung là nói về ý nghĩa của các đơn vị đó. Và dẫu ngôn ngữ học đã có những bước tiến khá dài, hệ luận đó hầu như vẫn chưa có gì thay đổi. Điều quan trọng là với quan niệm về tính hai mặt của ngôn ngữ, người ta đã vạch ra một đường ranh giới cho các lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ: Mô tả mặt biểu hiện của ngôn ngữ, chúng ta đi từ cấp độ âm vị, còn mô tả mặt nội dung của nó, chúng ta bắt đầu từ cấp độ hình vị. Âm vị được coi là những đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để cấu tạo nên mặt ngữ âm, còn hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để cấu tạo nên các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ. Như vậy, hệ thống âm vị của các ngôn ngữ thường chỉ được coi là hệ thống của những đơn vị trống nghĩa thuộc bình diện biểu hiện. Đương nhiên, hậu quả tiếp theo phải là: Khi đề cập đến bình diện ngữ nghĩa của ngôn ngữ, cấp độ âm vị thường bị bỏ qua. Tình hình này có nguồn gốc sâu xa trong một quan niệm được coi là chính thống và được chấp nhận một cách phổ biến đến mức không cần bàn cãi trong ngôn ngữ học; đó là quan niệm về tính võ đoán của các tín hiệu ngôn ngữ. Quan hệ võ đoán giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện của tín hiệu ngôn ngữ đã được xác định một lần cho mãi mãi, mà theo đó sự lựa chọn mặt âm thanh cho các tín hiệu ngôn ngữ đơn thuần chỉ là sự áp đặt võ đoán của cộng đồng ngôn ngữ. Cho nên, với tư cách là những yếu tố được lựa chọn ngẫu nhiên và võ đoán, các âm vị đương nhiên không thể là những đơn vị có nghĩa. Cũng chính vì vậy, ngữ nghĩa học thường được quan niệm là lĩnh vực ngôn ngữ học dành riêng cho những cấp độ ngôn ngữ lớn hơn âm vị.

Tuy nhiên, cũng có một số ít các nhà ngôn ngữ học nhận thấy rằng, có lẽ còn có điều gì đó chưa được nói tới khi đề cập đến cấp độ âm vị của ngôn ngữ. Từ lâu, người ta đã để ý đến các hiện tượng tượng thanh hay tượng hình, những trường hợp mà vỏ âm thanh của ngôn ngữ có quan hệ khá chặt chẽ với những gì chúng biểu đạt trong thực tế khách quan, nghĩa là ở đó, mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện không hoàn toàn là võ đoán. Người ta cũng đã nhìn thấy mối quan hệ có lí do giữa những đoạn âm thanh nhất định của ngôn ngữ với những ý nghĩa được thể hiện qua cử chỉ, động tác, họat động. Chẳng hạn, H. Schreuder đã nhận ra rằng, tổ hợp âm ‘ash’ trong tiếng Anh rất hay được dùng để biểu đạt những động tác nhanh hoặc đột ngột, ví dụ: flash (chạy vụt, đổ ào), dash (lao tới, ném mạnh), crash (đâm sầm xuống), hay tổ hợp âm vị /bl/ (cũng trong tiếng Anh) thường xuất hiện trong các từ biểu thị sự khó chịu, ghê tởm hay chán ngấy, ví du: bland smile (nụ cười chế nhạo), blare (làm om sòm), blast (nguyền rủa)… Thậm chí, tác giả còn thấy rằng, trong một số trường hợp, mối quan hệ giữa âm thanh ngôn ngữ (không chỉ là từ tượng thanh) và ý nghĩa chặt chẽ tới mức chúng có thể ảnh hưởng tới việc thay đổi ý nghĩa của từ trong quá khứ, khiến hiện nay một số tổ hợp âm trong tiếng Anh biểu thị những ý nghĩa tiêu cực thay vì ý nghĩa trung hòa như trước đây. Chẳng hạn, âm vị /u/ khi kết hợp với một số âm vị khác (ví dụ như với /l/, /ʃ/ hay /p/) thường biểu đạt những sự vật, sự việc được đánh giá tiêu cực, ví dụ: allure (cám dỗ, quyến rũ), shrew (người dàn bà đanh đá, độc ác), putrid (thối tha, đồi bại). Những hiên tượng tương tự trong tiếng Pháp cũng đã được P. Guiraud đề cập đến trong tác phẩm “La semantique”. Trên địa bàn tiếng Việt, Nguyễn Hữu Quỳnh cũng đã nêu nhận xét rằng, một số vần và nguyên âm “có khả năng biểu thị một nét nghĩa nào đó về trạng thái, họat động, tính chất.”. Ví dụ: vần ‘it’ trong tiếng Việt biểu thị một nét nghĩa chung là ‘làm kín, làm chặt thêm’ của các từ ‘bịt’,’khít’,‘chịt’, ‘sít’…, trong khi vần ‘óp’ mang nét nghĩa ‘giảm thể tích, thu nhỏ khối lượng’ như trong các từ ‘bóp’, ‘móp’ hay‘tọp’. Nghiêm túc hơn,, các nhà phong cách học cũng đã bàn khá nhiều về giá trị tu từ học của các yếu tố ngữ âm trong các ngôn ngữ. Xa hơn nữa, W. Humboldt, một trong những trụ cột của ngôn ngữ học đại cương, cũng đã nhìn nhận ý nghĩa biểu trưng của các đơn vị ngữ âm trong các ngôn ngữ.

Nhìn một cách tổng thể, các nhà ngôn ngữ học này ở những mức độ và góc độ khác nhau đều thừa nhận tính có lí do của âm thanh ngôn ngữ. Họ cho rằng không phải lúc nào mối quan hệ giữa mặt âm và mặt nghĩa trong ngôn ngữ cũng đều mang tính võ đoán, rằng các ngôn ngữ có những lí do và cách thức khác nhau để lựa chọn các phương tiện ngữ âm nhằm biểu đạt những sự vật, hiện tượng, đặc trưng, hay tính chất trong thực tế khách quan. Sự lựa chọn này có liên quan đến bản thân các âm thanh ngôn ngữ và các mối quan hệ đối lập giữa chúng với nhau. Nói cách khác, trong một số trường hợp, người ta thừa nhận có sự hài hòa nhất định giữa mặt âm thanh và mặt nghĩa của các tín hiệu ngôn ngữ.

Tuy nhiên, điều có thể dễ dàng nhận thấy là: Trong các quan điểm này, mặt âm thanh của ngôn ngữ được quan niệm khá rộng và cũng khá tùy tiện. Vì mục đích phản bác lại quan điểm về tính võ đoán của các tín hiệu ngôn ngữ, người ta thường không chú ý đến vấn đề cấp độ ngôn ngữ. Do vậy, các âm thanh được đem ra làm cơ sở tranh luận về tính võ đoán của các tín hiệu ngôn ngữ không được xác định một cách nhất quán. Đó có thể là âm vị nhưng cũng có thể là những tổ hợp âm vị, có thể là âm tiết mà cũng có thể là từ hay cụm từ. Chính điều đó làm cho dòng quan điểm này thiếu hẳn một cái nhìn ổn định về những đơn vị có nghĩa trong ngôn ngữ , và do đó, rất thiếu sức thuyết phục. Khi người ta nói rằng (rượu) “vang trắng”có tính võ đoán cao hơn “mèo trắng” thì rõ ràng là người ta không thể chỉ dựa vào bản thân mối quan hệ giữa mặt âm thanh và mặt nội dung của các tín hiệu ngôn ngữ này mà có lẽ còn phải dựa vào đặc điểm xã hội của mối quan hệ đó nữa, tức là những hiểu biết về cái biểu vật của chúng. Hoặc, khi ta nói rằng “cung quăng cung quẳng cung quằng” là vô nghĩa thì ta không thể căn cứ vào từng âm tiết mà phải căn cứ vào toàn bộ tổ hợp âm tiết đó. Vậy thì, tính võ đoán hay có lí do của tín hiệu ngôn ngữ phụ thuộc vào cấp độ ngôn ngữ. Trong trường hợp đầu, nếu xét dưới góc độ từ vị thì “vang trắng” võ đoán hơn “mèo trắng” nhưng nếu xét dưới góc độ hình vị thì mức độ võ đoán của chúng là ngang nhau; ở trường hợp thứ hai, nếu xét dưới góc độ hình vị thì mối quan hệ giữ hai mặt của tín hiệu là võ đoán, nhưng nếu xét dưới góc độ toàn bộ tổ hợp thì mối quan hệ này có thể giải thích được ở một mức độ nào đấy, tức là có lí do nhất định. Và nếu xét dưới góc độ âm vị thì trong tất cả các trường hợp trên, tính võ đoán luôn luôn được bảo toàn.

Do vậy, theo chúng tôi, bàn về tính võ đoán hay có lí do của ngôn ngữ, chúng ta không thể tách khỏi vấn đề cấp độ ngôn ngữ, bởi chính xuất phát từ cái nhìn ngôn ngữ như là cấu trúc của những cấp độ mà theo truyền thống, các nhà ngôn ngữ học phân biệt hai bình diện của cấu trúc ngôn ngữ là bình diện biểu hiện (expressive plane) và bình diện ngữ nghĩa (semantic plane). Mối quan hệ giữa hai bình diện này luôn luôn được xem xét dưới góc độ cấp độ hay đơn vị. Ở bình diện ngữ nghĩa, người ta chỉ quan tâm đến những đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ, tức là hình vị và những đơn vị lớn hơn nó. Với tư cách là những đơn vị tự thân trống nghĩa, âm vị luôn luôn chỉ được xem xét trên bình diện biểu hiện. Với một cách tiếp cận như vậy, trên cấp độ âm vị, chúng ta không thể nói tới mối quan hệ hai mặt của ngôn ngữ nữa. Ở đó, chỉ có mặt biểu hiện của ngôn ngữ mà thôi. Nói cách khác, âm vị luôn luôn được coi là loại đơn vị võ đoán và trống nghĩa của ngôn ngữ. Trong những trường hợp có sự trùng khít giữa đơn vị có nghĩa nhỏ nhất với âm vị, ví dụ như [s] trong tiếng Anh (chẳng hạn: has) hay [a] trong tiếng Nga (chẳng hạn: stud’enta), thì nhất loạt các đơn vị đó đều được coi là những hình vị. Trong tình hình đó, đương nhiên, ở những ngôn ngữ không có hình vị trùng với âm vị (ví dụ: tiếng Việt), các âm vị đều được coi là trống nghĩa. Với một quan niệm như vậy, dường như mọi việc trở nên rất đơn giản và rạch ròi: hình vị là những đơn vị có nghĩa còn âm vị là những đơn vị trống nghĩa.

Tuy nhiên, trong thực tế, sự phân biệt rạch ròi như vậy không phải bao giờ cũng có hiệu lực. Có những trường hợp, chúng ta thấy rất khó hoặc không thể phân biệt rõ ràng cái có nghĩa và không có nghĩa theo kiểu như vậy, nghĩa là có những trường hợp sử dụng âm vị, chúng ta buộc phải cân nhắc xem chúng ta đang quan sát các âm vị hay hình vị. Nếu coi chúng là hình vị, chúng ta buộc phải thay đổi quan niệm chung về hình vị, còn nếu coi chúng là âm vị thì chúng ta lại buộc phải thừa nhận rằng âm vị có nghĩa. Chẳng hạn, trong những trường hợp các âm vị được khai thác một cách có chủ ý để tạo ra giá trị ngữ nghĩa bổ sung nào đấy, chúng ta có thể nói tới ý nghĩa của các âm vị. Ví dụ, sự kết hợp của phụ âm xát /s/ trong các từ “xao xuyến”, “xốn xang” có giá trị thể hiện một loại ‘trạng thái tâm lí không ổn định hay dao động’. Cái giá trị có tính “phạm trù” đó của âm vị /s/ khác với những thế đối lập âm vị học đơn thuần của nó. Ở đây, các nét khu biệt của /s/ (xát/đầu lưỡi-răng dưới/vô thanh) không chỉ giúp ta phân biệt nó với các phụ âm khác trong tiếng Việt, và nhờ đó phân biệt ý nghĩa của các từ này với những từ khác, mà còn được khai thác vào việc chuyển tải một loại ý nghĩa của riêng /s/ – cái ý nghĩa bao trùm lên một loạt từ có sử dụng nó theo cách thức tương tự. Điều đó chứng tỏ là ngoài cái chức năng khu biệt của mình, âm vị này (trong trường hợp sử dụng này) còn có thêm một chức năng nữa: chức năng biểu vật hoặc/và biểu niệm. Như vậy, có thể nói rằng, việc chúng ta lựa chọn để sử dụng âm vị này hay âm vị khác có liên quan đến ý nghĩa của các từ hay câu. Và đây tuyệt nhiên không phải chỉ là trường hợp các từ tượng thanh, vốn được coi là những trường hợp đặc biệt của ngữ âm. Vấn đề còn lại là nên qưan niệm thế nào về hiện tượng này, nên coi đó là hình vị hay âm vị. Chúng tôi sẽ nói rõ hơn về vấn đề này ở bên dưới.

2. Quan niệm về giá trị ngữ nghĩa của âm vị

Như trên đã nói, các nhà ngôn ngữ học luôn luôn coi hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, và ngữ nghĩa học luôn luôn quan tâm đến những đơn vị ngôn ngữ lớn hơn âm vị. Thái độ này đã dẫn đến một thực tế là, khi nói về đặc điểm ngữ âm của một ngôn ngữ nào đó, người ta thường chỉ mô tả các thế đối lập của các âm vị mà không đề cập đến giá trị ngữ nghĩa của những đơn vị thấp hơn hình vị. Trong thực tế, người ta ít khi nêu đặc điểm ngữ nghĩa của các ngôn ngữ, còn nếu xét riêng về đặc điểm ngữ nghĩa trên cấp độ âm vị thì hầu như không bao giờ. Những hiện tượng gây lúng túng như ví dụ trên đây thường bị bỏ qua hoặc được khảo sát trong một lĩnh vực riêng, không nằm trong các lĩnh vực quan tâm truyền thống của ngôn ngữ học, ví dụ như trong lĩnh vực tu từ học chẳng hạn.

Trở lại ví dụ đã nêu, liệu chúng ta có thể quan niệm âm vị như là những đơn vị có giá trị ngữ nghĩa hay không, hay là ta nên coi đó là những hình vị như truyền thống xưa nay vẫn làm? Vấn đề là, nếu chúng ta chấp nhận rằng các âm vị cũng có thể có giá trị ngữ nghĩa thì chúng ta buộc phải xét lại cái lí thuyết về các bình diện ngôn ngữ theo cách hiểu truyền thống. Còn nếu coi đó là những hình vị thì vấn đề cần phải giải quyết là liệu đó có phải những hình vị có hình thức âm vị hay không. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần làm rõ thêm về việc khai thác các âm vị.
Âm vị có thể được sử dụng theo hai cách thức hay hai mục đích khác nhau: 1/Tạo ra các từ, và 2/ Tạo nghĩa mới cho các từ. Trong mục đích thứ nhất, âm vị tạo ra các từ nhờ những thế đối lập của chúng, còn trong mục đích thứ hai, từ được bổ sung một ý nghĩa mới nào đấy nhờ việc khái thác các giá trị ngữ nghĩa mà các âm vị có thể mang lại. Ở trường hợp thứ nhất, âm vị luôn luôn được coi là những yếu tố tự thân không có nghĩa nhưng có chức năng tạo ra những đơn vị có nghĩa khác nhau là hình vị hoặc từ. Hình vị được coi là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa. Trong từ pháp học, khái niệm “hình vị” bao hàm ý nghĩa ‘sử dụng các âm vị một cách có mục đích và hệ thống theo những nguyên tắc nhất định của ngôn ngữ nhằm tạo ra các từ, hoặc để biểu thị các nghĩa ngữ pháp’. Như vậy, trong những truờng hợp này, âm vị có thể được sử dụng như một loại phương tiện khu biệt: khu biệt các vỏ âm thanh khác nhau của các hình vị trong hệ thống từ pháp. Sở dĩ ta nói rằng – er trong tiếng Anh là một hình vị là do nó có tính hệ thống mà nhờ đó ta nhận ra ý nghĩa của bản thân nó. Đó là sự khai thác nguyên phát các âm vị. Cách sử dụng này thực chất phản ánh quá trình hình thành các ngôn ngữ nói chung. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các âm vị có thể được sử dụng không nhằm những mục đích ấy: Chúng được khai thác để tạo ra một ý nghĩa bổ sung nào đấy cho các đơn vị ngôn ngữ lớn hơn. Khi đó, chúng trở thành phương tiện ngữ nghĩa dùng để biến đổi ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ chứ không còn là phương tiện khu biệt để cấu tạo từ nữa. Trong trường hợp này, chúng ta có thể nói tới sự khai thác thứ phát các âm vị. Như vậy, âm vị có thể có hai chức năng: chức năng nguyên phát và chức năng thứ phát. Chức năng khu biệt của các âm vị là chức năng nguyên phát, còn chức năng ngữ nghĩa là chức năng thứ phát của chúng. Khi nói tới giá trị ngữ nghĩa của các âm vị là ta nói tới việc sử dụng âm vị trong chức năng thứ phát của chúng. Tuy nhiên, các chức năng ngữ nghĩa của các âm vị có thể được biểu hiện trong một hệ thống hình vị, như trong trường hợp các hình vị ngữ pháp của các ngôn ngữ biến hình, và đó là sự khai thác âm vị có tính hệ thống và nguyên phát, nhưng cũng có thể được thể hiện trong một hệ thống âm vị, và đó là cách sử dụng âm vị không có tính hệ thống hoặc thậm chí mang tính cá nhân, và luôn luôn mang tính thứ phát. Trong trường hợp đầu, chúng ta có các hình vị trùng với hình thức của âm vị, còn trong trường hợp thứ hai, chúng ta đứng trước một loại hiện tượng mà chúng tôi gọi là “ngữ nghĩa hóa âm vị” . Chính sự ngữ nghĩa hóa âm vị đã làm cho các âm vị trở nên có nghĩa. Và do thiếu tính hệ thống cũng như tính ổn dịnh, loại ý nghĩa này không thể được coi là ý nghĩa của hình vị. Đó là ý nghĩa của các âm vị. Những ví dụ đã dẫn trong mục 1. là minh chứng cho sự hiện diện của loại ý nghĩa này.

Sự tồn tại các giá trị ngữ nghĩa của âm vị khiến cho sự phân biệt hai bình diện của ngôn ngữ, tức bình diện biểu hiện và bình diện ngữ nghĩa theo cách hiểu xưa nay, trở nên không rõ ràng hoặc không triệt để. Ngữ nghĩa học truyền thống không quan tâm đến hoặc không thừa nhận những giá trị ngữ nghĩa của những đơn vị ngôn ngữ nhỏ hơn hình vị. Đó là cái phần dư ngữ nghĩa trong ngôn ngữ mà ngôn ngữ học chưa có cách giải quyết dứt khoát. Thông thường, khi nhận thấy một hiện tượng ngôn ngữ nào đấy mang giá trị ngữ nghĩa, người ta cứ nghĩ trước hết đến sự hiện diện của hình vị hay từ.

Vậy nên, ở đây còn một vấn đề cần phải làm rõ: Liệu một âm vị có nên gọi là âm vị nữa hay không khi nó đã mang giá trị ngữ nghĩa? Nên chăng vẫn coi đó là hình vị như từ xưa đến nay vẫn làm trong ngôn ngữ học truyền thống?
Khái niệm hình vị có quan hệ chặt chẽ với các nguyên tắc ngôn ngữ mà nhờ đó một ngôn ngữ hay một loại hình ngôn ngữ được xác định. Nói cách khác, cấu trúc của một ngôn ngữ được xác lập nhờ vào những nguyên tắc đó. Các nguyên tắc phát âm , nguyên tắc kết hợp các âm vị trên dòng ngữ lưu, nguyên tắc tạo từ mới, nguyên tắc sắp xếp các từ theo trật tự tuyến tính, nguyên tắc thể hiện ý nghĩa ngữ pháp, v.v… đều thuộc về loại nguyên tắc này. Vì vậy, các quy tắc khai thác các yếu tố ngôn ngữ, kể từ âm vị trở lên, để tạo ra các từ hay để tạo từ mới, hoặc để thể hiện các nghĩa ngữ pháp, là những điều kiện tiên quyết để thừa nhận sự tồn tại hay nhận dạng một ngôn ngữ hay một loại hình ngôn ngữ nào đó. Song, việc bổ sung giá trị ngữ nghĩa cho các âm vị như đã trình bày ở trên không có ý nghĩa như vậy, bởi vì việc khai thác các âm vị trong chức năng ngữ nghĩa không luôn luôn mang tính hệ thống và luôn luôn xảy ra muộn hơn trong quá trình sử dụng và phát triển của ngôn ngữ. Đó tuyệt nhiên không phải là điều kiện tiên quyết để nhận dạng một ngôn ngữ hay một loại hình ngôn ngữ. Đương nhiên, nó có đóng góp nhất định làm nên đặc trưng của một ngôn ngữ. Chẳng hạn, việc khai thác thanh điệu trong tiếng Việt theo âm vực để thể hiện các trạng thái tâm lí như vui buồn, sung sướng, đau khổ… nói lên đặc điểm về phương tiện tu từ trong tiếng Việt. Song hiện tượng này trước hết là kết quả của sự liên tưởng mới mẻ giữa âm thanh của ngôn ngữ với những yếu tố bên ngoài ngôn ngữ (trạng thái tâm lí) chứ không phải là nguyên tắc bắt buộc như trong cách khai thác thanh điệu để khu biệt các từ hay hình vị. Bởi vậy, nhiều khi việc vận dụng hay nhận biết/hiểu những giá trị ngữ nghĩa này phụ thuộc rất nhiều vào khả năng cảm nhận/tri nhận ngôn ngữ của cá nhân người sử dụng ngôn ngữ.

Để thấy rõ hơn điều này, ta hãy nêu thêm một ví dụ về cách khai thác thanh điệu trong tiếng Việt. Vốn là một loại âm vị (âm vị siêu đoạn tính), thanh điệu nói chung đều có chức năng khu biệt ý nghĩa của các hình vị hay từ. Đó là chức năng âm vị học của thanh điệu. Với chức năng này, thanh điệu cho phép ngôn ngữ tạo ra những đơn vị có nghĩa khác nhau từ những tổ hợp âm vị đoạn tính giống nhau, ví dụ như : va/và.vá/vạ/vả/vã.trong tiếng Việt. Cách khai thác thanh điệu trong các ngôn ngữ có thể khác nhau, song mục đích sử dụng thanh điệu là giống nhau. Nhờ chức năng khu biệt này mà ta phân biệt ngôn ngữ thanh điệu với các ngôn ngữ không thanh điệu. Ở các ngôn ngữ không thanh điệu, có thể vẫn có sự thay đổi độ cao của giọng tương tự như khi thể hiện thanh điệu, nhưng sự thay đổi đó không có chức năng âm vị học. Như vậy, chức năng âm vị học của thanh điệu là chức năng nguyên phát của chúng giúp chúng ta nhận dạng ngôn ngữ thanh điệu và ngôn ngữ không thanh điệu. Tuy nhiên, trong tiếng Việt, thanh điệu không chỉ được khai thác trong chức năng này. Vốn bản chất mang tính thanh nhạc, thanh điệu cũng có thể được khai thác như là những phương tiện thanh nhạc để chuyển tải một số nội dung nào đó, tương tự như các nốt nhạc. Chức năng đó của thanh điệu cần phải được xem xét như là chức năng thứ phát của chúng. Thực tế cho thấy, thanh điệu trong tiếng Việt được khai thác khá rộng rãi trong chức năng thứ phát này nhằm biểu đạt những giá trị ngữ nghĩa khác với những giá trị ngữ nghĩa của bản thân hình vị hay từ mà chúng có nhiệm vụ khu biệt. Đó có thể coi là một thứ ý nghĩa của riêng thanh điệu. Chẳng hạn, thanh điệu cao và bằng phẳng (thanh ngang) trong tiếng Việt thường được dùng trong những từ tạo cảm giác nhẹ nhàng, bay bổng, vui sướng, ví dụ như lâng lâng, bâng khuâng đê mê, tênh tênh… Điều này cũng đã được thể hiện rõ trong những câu thơ như “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời.”. Ngược lại, những thanh điệu thấp và/hoặc không bằng phẳng như thanh nặng, thanh hỏi, thanh sắc, lại thường xuất hiện trong những từ biểu thị cảm giác nặng nề, u buồn, day dứt, ví dụ như: nặng nề, ỉu xìu, uất ức, tức tối, dùng dằng, bịn rịn. Trong những trường hợp này, rõ ràng là chúng ta không thể chỉ nói về chức năng âm vị học của thanh điệu mà còn phải nói về chức năng ngữ nghĩa của chúng.

Một ví dụ khác, so với hệ thống nguyên âm tiếng Hán, trong hệ thống nguyên âm tiếng Việt, có hai nguyên âm hơi rộng và hơi thấp là nguyên âm /ε/ và nguyên âm /ɔ/ mà trong tiếng Hán không có. Điều tất yếu xảy ra là: Trong tiếng Hán, các nguyên âm được sử dụng đều là những nguyên âm hẹp hơn như /i/, /y/, /ə/ hoặc /o/, trừ nguyên âm /a/ mà cả hai ngôn ngữ đều sử dụng. Trong khi đó, hai nguyên âm /ε/ và /ɔ/ trong tiếng Việt lại được sử dụng rất phổ biến, và chính điều đó đã tạo ra một sự khác biệt cơ bản về mặt âm thanh giữa tiếng Hán và tiếng Việt: tiếng Việt có nhiều từ (hoặc hình vị) chứa nguyên âm hơi rộng mà trong tiếng Hán thì không có. Sự khác biệt này đã được tiếng Việt khai thác để bổ sung ý nghĩa cho các từ vay mượn của tiếng Hán: Từ gốc Hán, với các nguyên âm hẹp hơn, được bổ sung thêm các nét nghĩa như: trang trọng, sách vở, cổ thi …, trong khi các từ thuần Việt, với những nguyên âm rộng hơn, thường được bổ sung thêm các nét nghĩa: thông tục, suồng sã , dân dã. Để thấy rõ hơn, chúng ta có thể so sánh các cặp từ như :

Thuần Việt Hán –Việt
bé tiểu
trẻ con nhi đồng
mèo miêu
chạy/té tẩu

Chính sự khác biệt này đã được một số nhà thơ nổi tiếng của ta khai thác để tạo nên cái ý nghĩa châm biếm, ngang tàng, dân dã cho thơ của mình. Hồ Xuân Hưong chẳng hạn, đã tạo nên một số từ trống nghĩa kiểu như: mõm mòm, phòm, dom, nhưng lại được người đọc tiếp nhận như những từ có nghĩa, chính bởi tại trong đó có cái âm /ɔ/ “nôm na cha mách qué” rất ỡm ờ của tiếng Việt (trong mối quan hệ với tiếng Hán). Trong những trường hợp này, chúng ta càng thấy rõ rằng âm vị chính là cái trụ cột ngữ nghĩa của những từ đó, bởi vì thiếu đi cái chức năng ngữ nghĩa đó của âm vị, có lẽ không ai tiếp nhận những tổ hợp âm thanh đó là những đơn vị ngôn ngữ có nghĩa.

Trở lại câu hỏi đã đặt ra ở trên, liệu chúng ta có thể và có nên coi đấy là những hình vị hay không? Đương nhiên, ở một mức độ nào đó, chúng ta có thể mô tả hệ thống cấu tạo từ theo các tiêu chí ngữ âm, nghĩa là có thể coi những cách khai thác âm vị như thế này là những phương thức cấu tạo từ mới. Song, việc xác định hệ thống cấu tạo từ sẽ gặp những trở ngoại không thể khắc phục nổi, bởi vì ở đây ta không thể nói tới tính ổn định hay tính hệ thống của những phương thức cấu tạo từ này. Việc tri nhận giá trị ngữ nghĩa của các yếu tố ngữ âm ở đây không đơn giản như khi tri nhận giá trị ngữ nghĩa của các hình vị theo cách hiểu truyền thống. Trong trường hợp sử dụng các thanh điệu trong chức năng thứ phát chẳng hạn, phải là những người luôn được tắm mình trong âm thanh của các thanh điệu, và trong một thời gian dài, mới có thể cảm nhận hết được sự khác biệt tinh tế trong việc sử dụng thanh điệu. Suy rộng ra, đối với cộng đồng ngôn ngữ, phải trải qua hàng trăm năm khai thác thanh điệu và trải qua nhiều thế hệ sử dụng ngôn ngữ, người ta mới có thể phát hiện, xây dựng và khai thác các giá trị thanh nhạc của thanh điệu, tức là mới làm cho thanh điệu trở thành phương tiện chuyển tải những giá trị ngữ nghĩa. Đối với các âm vị đoạn tính cũng vậy. Phải có được khả năng cảm thụ ngôn ngữ tinh tế đến mức có thể coi là sự cảm thụ ngôn ngữ học, người ta mới có thể nhận ra hoặc khai thác những giá trị ngữ nghĩa của các nguyên âm hay phụ âm, mới có được khả năng tri nhận cái “ý nghĩa qua âm thanh” của từ ngữ. Chính điều này giải thích lí do, vì sao khi học ngoại ngữ chỉ một số ít người có khả năng đạt tới khả năng này của người bản ngữ. Điều đó cũng giải thích lí do, tại sao các giá trị ngữ nghĩa của các âm vị lại trở thành một bộ phận rất quan trọng trong cơ cấu biện pháp tu từ học của các nhà văn, nhà thơ. Chính là bởi việc bổ sung, chuyển tải và tri giác các giá trị đó thường mang tính chất cá nhân, phụ thuộc vào sự hiểu biết về ngôn ngữ, vào khả năng cảm nhận ngôn ngữ của cá nhân người sử dụng ngôn ngữ, và vào những tình huống giao tiếp ngôn ngữ cụ thể.

Mặt khác, tuy dường như các âm vị ở đây cũng được sử dụng để tạo ra từ mới, và do đó chúng ta có thể ngộ nhận rằng đây là những hình vị cấu tạo từ, song thật khó xác định bản chất hình vị của chúng. Theo truyền thống, hình vị được định nghĩa là một yếu tố đoạn tính, hoặc là sự kết hợp của các yếu tố đoạn tính và siêu đoạn tính, luôn luôn xuất hiện ở một vị trí có thể xác định trên dòng ngữ lưu, nghĩa là có thể được đặt trước, đặt sau hay đặt chen vào giữa căn tố nào đó. Trong trường hợp bao tố, hình vị còn có thể đặt xung quanh căn tố. Trong khi đó, yếu tố mang giá trị ngữ nghĩa mà chúng ta đã nói trong trường hợp thanh điệu, có thể không cho phép chúng ta xác định theo cách thức như vậy. Chúng ta có thể phải đưa vào những khái niệm mới về hình vị như “hình vị siêu đoạn tính”, “hình vị liên-đoạn tính-siêu đoạn tính” hoặc thậm chí “hình vị không xác định” (nhưng không phải là hình vị zero). Một quan niệm như vậy sẽ đòi hỏi phải xem xét lại toàn bộ khái niệm hình vị truyền thống. Tuy nhiên, vì những lí do khác đã trình bày ở trên, một quan niệm như vậy rõ ràng là không cần thiết và cũng không hợp lí . Quan điểm của chúng tôi là cần phải thừa nhận ý nghĩa của bản thân các âm vị, cả các âm vị đoạn tính lẫn âm vị siêu đoạn tính.

3. Những vấn đề ngữ nghĩa học âm vị

Sự thừa nhận giá trị ngữ nghĩa của các âm vị, hoặc phức thể âm vị, tạo tiền đề cho việc hình thành một bộ môn nghiên cứu mới: Ngữ nghĩa học âm vị. Ngữ nghĩa học âm vị sẽ quan tâm đến một cấp độ ngữ nghĩa mới trong ngôn ngữ: cấp độ âm vị. Với quan niệm này, cấu trúc các bình diện của ngôn ngữ trở nên nhất quán hơn: trên bình diện biểu hiện, chúng ta nghiên cứu toàn bộ mặt cấu tạo hình thức của ngôn ngữ, đi từ âm vị đến văn bản, còn trên bình diện ngữ nghĩa, chúng ta xem xét toàn bộ mặt nội dung của ngôn ngữ, cũng đi từ âm vị đến văn bản.

Ngữ nghĩa học âm vị là cái phần bổ sung làm cho bức tranh về các bình diện ngữ nghĩa của ngôn ngữ được hoàn chỉnh hơn. Nếu phân biệt hai tiểu bình diện ngữ nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ là nghĩa ngôn ngữ và nghĩa ngữ dụng thì Ngữ nghĩa học âm vị có vẻ liên quan nhiều hơn đến ý nghĩa ngữ dụng, bởi vì loại ý nghĩa này phụ thuộc nhiều vào các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ cụ thể như đã nói ở trên. Tuy nhiên, ý nghĩa của các âm vị là một lĩnh vực phức tạp và rộng lớn hơn nhiều, không chỉ liên quan đến sự vận dụng ngôn ngữ mà còn liên quan đến cả lịch sử phát triển của ngôn ngữ, nghĩa là vừa có tính chất đồng đại vừa có tính chất lịch đại. Ngữ nghĩa học âm vị sẽ không phân chia rạch ròi hai mặt nghiên cứu là đồng đại và lịch đại mà xem xét toàn bộ những hiện tượng có liên quan đến việc ngữ nghĩa hóa các âm vị, khiến chúng trở nên có nghĩa. Điều này khiến cho Ngữ nghĩa học âm vị có ý nghĩa thực tiễn to lớn: Nó giúp giải thích nhiều hiện tượng ngữ nghĩa hóa âm vị trong các ngôn ngữ , làm cho người sử dụng/người học ngôn ngữ hiểu rõ hơn bản chất của những hiện tượng ngôn ngữ như đồng nghĩa, dị nghĩa, các tên riêng, sự hài âm, chơi chữ , hay đặc điểm cấu tạo của các tiếng xã hội trong một cộng đồng ngôn ngữ chẳng hạn.
Qua tìm hiểu ban đầu, chúng tôi có thể nêu lên những nội dung nghiên cứu chủ yếu sau đây của Ngữ nghĩa học âm vị:
– Hiện tượng ngữ nghĩa hóa âm vị siêu đoạn tính;
– Hiện tượng ngữ nghĩa hóa các tổ hợp âm vị đoạn tính và siêu đoạn tính không phải là hình vị;
– Hiện tượng ngữ nghĩa hóa các tổ hợp âm vị đoạn tính không phải là hình vị;
– Hiện tượng ngữ nghĩa hóa âm vị do vay mượn từ ngoại lai;
– Hiện tượng ngữ nghĩa hóa các âm vị bị âm tiết hóa;
– Hiện tượng ngữ nghĩa hóa âm vị có chức năng tạo từ mới;
– Các ý nghĩa biểu trưng của âm vị;
– Hiện tượng ngữ nghĩa hóa các âm vị liên quan đến sự phân hóa xã hội.

Ngoài ra, những vấn đề ngữ nghĩa khác của cấp độ âm vị như ngữ nghĩa của âm vị trong các từ tượng thanh hay tượng hình hay tên riêng cũng sẽ là đối tượng quan tâm của Ngữ nghĩa học âm vị.
Qua đó có thể thấy rằng, Ngữ nghĩa học âm vị có phạm vi nghiên cứu tương đối rộng. Và đương nhiên, những vấn đề phác họa trên đây không chỉ có ý nghĩa đối với lí luận ngôn ngữ học mà chắc chắn sẽ có ý nghĩa to lớn trong giảng dạy ngôn ngữ nói chung và ngoại ngữ nói riêng. Chẳng hạn việc giải thích hiện tượng ngữ nghĩa hóa âm vị /m/ trong từ muốn của tiếng Việt nhằm tạo ra sự khác biệt về nghĩa của hai biến thể ngữ âm buồn/muốn sẽ giúp cho người học tiếng Việt hiểu rõ hơn không chỉ mối quan hệ giữa buồn cười và muốn cười, mà còn giúp họ giải thích được lí do, tại sao ngày nay buồn lại mang một ý nghĩa khác với muốn và nhờ đó chúng ta có hai từ độc lập với nhau trong tiếng Việt.

Dẫu những điều trình bày trên đây có thể chưa cho ta một bức tranh toàn diện về một lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ còn đang trong giai đoạn sơ khai, chúng ta đã có thể thấy được rằng, Ngữ nghĩa học ở cấp độ âm vị là một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn hơn nhiều so với những gì chúng ta quen nghĩ về cấp độ ngôn ngữ này. Thói quen suy nghĩ về cấp độ âm vị như là một hệ thống các đơn vị trống nghĩa, có lẽ, khiến cho chúng ta khó chấp nhận quan điểm cho rằng các âm vị cũng là những đơn vị có nghĩa. Đương nhiên, vốn là những đơn vị được dùng để tổ chức nên mặt âm thanh của ngôn ngữ, các âm vị tự thân đều không có nghĩa. Song, có một thực tế không ai có thể phủ nhận được là: Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống âm vị cho riêng mình. Như vậy, có sự khác biệt về cách thức mà các ngôn ngữ lựa chọn để sử dụng các âm vị. Không những thế, mỗi cá nhân, mỗi nhóm hay tầng lớp xã hội cũng có thể có những cách thức khác nhau để lựa chọn những âm vị hay tổ hợp âm vị cho những mục đích giao tiếp khác nhau. Điều đó cho thấy âm vị trong hoạt động ngôn ngữ không phải lúc nào cũng mang tính võ đoán. Mặt khác, ngôn ngữ luôn luôn phát triển theo thời gian, và trải qua lịch sử hoạt động và phát triển lâu dài của mình, ngôn ngữ đã dần tạo ra cho mình cái quyền được can thiệp vào các khế ước xã hội hình thành từ xa xưa, khiến cho các khế ước xã hội trong ngôn ngữ ngày nay trở nên ít võ đoán hơn. Điều đó có nghĩa là đặc trưng của một ngôn ngữ trên cấp độ âm vị không chỉ thể hiện ở những yếu tố định tính hay định lượng của hệ thống âm vị mà còn cả ở những cách thức lựa chọn và sử dụng cái hệ thống âm vị đó vào những mục đích chuyển tải thông điệp nữa. Vì vậy, đã đến lúc cần phải có một cái nhìn nghiêm túc hơn đối với vấn đề ngữ nghĩa trên cấp độ âm vị. Các âm vị cần phải được mô tả trên bình diện ngữ nghĩa hoặc/và ngữ dụng một cách hệ thống hơn, toàn diện hơn. Với một cách quan niệm như vậy, chúng ta sẽ có được một cách tiếp cận nhất quán đối với các cấp độ ngôn ngữ và các bình diện nghiên cứu cũng như giảng dạy ngôn ngữ: Trên cả hai bình diện (ngữ kết và ngữ nghĩa), âm vị đều được quan sát và mô tả. Sự khác biệt giữa các ngôn ngữ cũng được thể hiện trên tất cả các cấp độ của hai bình diện đó. Vì vậy, chắc chắn các bản mô tả ngữ nghĩa học âm vị như vậy sẽ góp phần nâng cao sự hiểu biết về các ngôn ngữ loài người nói chung, cũng như về các ngôn ngữ dân tộc nói riêng, và góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy/học tập ngôn ngữ nói chung và ngoại ngữ nói riêng.

Đánh giá của các nhà môi giới tùy chọn nhị phân tốt nhất:
  • Binarium
    Binarium

    Các nhà môi giới tùy chọn nhị phân tốt nhất! Đào tạo miễn phí và tài khoản demo!
    Đăng ký tiền thưởng!

  • Binomo
    Binomo

    Vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng!

Làm thế nào để kiếm tiền trực tuyến
Trả lời

;-) :| :x :twisted: :smile: :shock: :sad: :roll: :razz: :oops: :o :mrgreen: :lol: :idea: :grin: :evil: :cry: :cool: :arrow: :???: :?: :!: